PHẬT GIÁO

Thứ năm - 25/12/2025 00:35 Đã xem: 268
Lời giới thiệu          Có người nói rằng: "Tất cả các tôn giáo hầu như đều có một lời dạy chung là làm những việc tốt và biểu tượng tình thương". Hiện nay đã có rất nhiều tôn giáo và nhiều tín ngưỡng nhân gian trên thế giới. Mọi người hầu như đều có một hoặc hai tôn giáo, bao gồm cả tín ngưỡng nhân gian. Cũng có người không có bất kỳ tôn giáo nào. Tất cả chúng ta theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng nhân gian do truyền thống, văn hóa và đặc biệt, chúng ta theo tôn giáo của cha mẹ (Tôn giáo gia đình hoặc tín ngưỡng gia đình). Điều này gần như là bắt buộc. Bạn không được tự do lựa chọn tôn giáo cho mình. Rất hiếm khi ai đó nghiên cứu và chọn một tôn giáo cho họ. Lý do không dễ để biết cách nghiên cứu về tôn giáo và tín ngưỡng nhân gian. Vì vậy, nhiều người theo các tôn giáo mà không nghiên cứu tìm hiểu gì cả. Nếu bạn nghiên cứu và tìm hiểu các tôn giáo một cách rõ ràng. Sau đó, bạn chọn cho mình một tôn giáo lý tưởng và phù hợp. Tôn giáo này sẽ mang lại lợi ích cho đời sống tinh thần của bạn. Điều này tùy thuộc vào quyết định của bạn.
PHẬT GIÁO

PHẬT GIÁO

NỘI DUNG
I - Lịch sử
  1. Lịch sử đức Phật
  2. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ
II – Giáo lý - Phật pháp
  1. Bài pháp đầu tiên “Tứ Diệu Đế”
  2. 37 Phẩm Trợ Đạo
  3. Thập Nhị Nhân Duyên
  4. Luân Hồi Nhân Quả
  5. 40 câu hỏi Phật pháp vấn đáp
III – Phương pháp tu hành
  1. Tu nhân
  2. Tu Thiên
  3. Tu Thánh
  4. Tu Bồ Tát
  5. Tu Phật
I - Lịch sử
1. Lịch sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni
Lời giới thiệu
          Có người nói rằng: "Tất cả các tôn giáo hầu như đều có một lời dạy chung là làm những việc tốt và biểu tượng tình thương".
          Hiện nay đã có rất nhiều tôn giáo và nhiều tín ngưỡng nhân gian trên thế giới. Mọi người hầu như đều có một hoặc hai tôn giáo, bao gồm cả tín ngưỡng nhân gian. Cũng có người không có bất kỳ tôn giáo nào. Tất cả chúng ta theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng nhân gian do truyền thống, văn hóa và đặc biệt, chúng ta theo tôn giáo của cha mẹ (Tôn giáo gia đình hoặc tín ngưỡng gia đình). Điều này gần như là bắt buộc. Bạn không được tự do lựa chọn tôn giáo cho mình. Rất hiếm khi ai đó nghiên cứu và chọn một tôn giáo cho họ. Lý do không dễ để biết cách nghiên cứu về tôn giáo và tín ngưỡng nhân gian. Vì vậy, nhiều người theo các tôn giáo mà không nghiên cứu tìm hiểu gì cả. Nếu bạn nghiên cứu và tìm hiểu các tôn giáo một cách rõ ràng. Sau đó, bạn chọn cho mình một tôn giáo lý tưởng và phù hợp. Tôn giáo này sẽ mang lại lợi ích cho đời sống tinh thần của bạn. Điều này tùy thuộc vào quyết định của bạn.
          Các học giả phương Tây và các nhà nghiên cứu nói rằng bạn muốn học hay nghiên cứu tôn giáo nào một cách rõ ràng. Bạn nên mở rộng tâm trí của mình; bạn phải sử dụng trí tuệ và kiến ​​thức của mình; Bạn phải có cái nhìn khách quan, thì bạn nhận ra tất cả các vấn đề tích cực hoặc tiêu cực chính xác. Nếu bạn thích tin tưởng bất cứ ai; Bạn chỉ biết phát triển niềm tin của mình một cách tuyệt đối, mà bạn không tìm hiểu về lịch sử của người đó có thật không? hay người đó tu tập thế nào thành Thánh? Và có giáo lý không? Nếu không, thì bạn dễ bị mê tín. Nếu bạn nhận thức tôn giáo bằng ý kiến ​​chủ quan, bảo thủ, cố chấp, cực đoan của mình. Khi đó, bạn không thể hiểu được các tôn giáo chánh kiến và tà kiến, đúng sai, chánh tà. Bạn không thể trở thành một nhà nghiên cứu cho công chúng. Vì vậy, nếu bạn muốn trở thành một nhà nghiên cứu, thì bạn nên có cái nhìn khách quan. Khi đó niềm tin của bạn sẽ là chính kiến ​​và có lý tưởng.
                Đức Phật ra đời mục đích là: “Khai thị chúng sanh, ngộ nhập Phật tri kiến”. Nghĩa là “Chỉ dạy chúng sanh, hiểu và thâm nhập vào sự hiểu biết của đức Phật”. Đức Phật dạy rằng cõi đời có nhiều vui sướng, khoái lạc như tiền tài, vật chất, sắc đẹp, danh thơm, địa vị, giàu sang, ăn ngon, mặc đẹp, v.v... Tuy nhiên, đức Phật nhận thấy rằng con người không ai thoát khỏi cái khổ sanh, già, bệnh, chết và cái khổ của luân hồi sanh tử, v.v... vì đây là luật vô thường. Do đó, Ngài muốn dạy cho nhân sinh diệt tất cả khổ để đạt đến Niết Bàn. Ngài đã dạy cho nhân sinh tu tập đạt được định lực, trí huệ, từ bi, hay nói cách khác Ngài dạy cho nhân sinh tu tập thành bậc giác ngộ chân lý. Người giác ngộ chân lý đó chính là Phật.
         Lời dạy của đức Phật gồm có ba tạng Kinh Điển như Kinh, Luật và Luận. Đây là một đại tạng dài và cần thời gian dài để nghiên cứu. Chúng tôi muốn giới thiệu ngắn, đơn giản để cho người mới học tìm hiểu học hỏi dễ hơn.
         Bài giới thiệu ngắn gọn có thể không hoàn hảo và không tránh khỏi thiếu sót. Chúng con rất mong chư Tôn Đức góp ý và chỉ dạy thêm.
Chúng con xin hồi hướng công đức này, chúng con cùng pháp giới chúng sanh đồng thành Phật đạo và đồng sanh Tịnh Độ.
Ravenburg ngày 29/10/2015
Tỳ kheo Thích Hạnh Định

I. TÓM TẮT LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT!    
           Cách đây hơn 2500 năm ở thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), nước Ấn Độ (India) có vị vua tên là Tịnh Phạn (Suddhodana) và bà Hoàng hậu tên là Maya. Thành Ca Tỳ La Vệ nằm giữa biên giới nước Nepal và Ấn Độ bây giờ. Những di tích lịch sử của đức Phật đã được  di sản văn hóa thế giới UNESCO khai quật và công nhận.
Một hôm, bà Hoàng hậu nằm chiêm bao thấy con voi trắng sáu ngà chui vào bên hông phải của bà. Bà đã đem điềm chiêm bao kể lại cho các quan thần trong triều đình nghe. Ai cũng đoán đây là điềm lành. Chẳng bao lâu, bà mang thai một hoàng thái tử. Theo phong tục truyền thống Ấn Độ, khi người vợ sanh con là về nhà mẹ ruột. Do đó, Khi sắp tới ngày sanh, Hoàng hậu đi về quê mẹ để sanh Thái tử. Trên đường về quê mẹ, Hoàng hậu đi ngang qua khu rừng Lâm Tỳ Ni (Lumbini) có một vườn hoa Vô Ưu.Theo truyền thuyết Ấn Độ thì hoa này 1000 năm mới nở một lần. Vì thế, Hoàng hậu đã dừng chân ở đây để ngắm nhìn hoa. Bà giơ tay lên định hái một bông hoa. Đột nhiên, bà chuyển bụng liền hạ  sanh ra Thái tử.
Thái tử được sanh ra dưới cây Vô Ưu vào ngày 15 tháng 04 ÂL năm 624 trước tây lịch tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini).  
 
 Vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) nơi đức Phật đản sanh
 
           Nay vẫn thuộc lãnh thổ nước Nepal. Vua cha đã đặt tên Thái tử là Tất Đạt Đa hay còn gọi là Sĩ Đạt Ta (Siddhattha). Hoàng hậu sanh ra thái tử được bảy ngày thì băng hà và thác sanh lên cõi trời Đao Lợi. Bởi vậy, người em gái của bà là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề làm dì mẫu nuôi thái tử.
Theo hình tượng, Thái tử ra đời đi bảy bước và tay phải chỉ lên trời và tay trái chỉ xuống đất.
- Ngài đi bảy bước là tượng trưng cho đã có bảy vị Phật ra đời trên trái đất này. Ngài là vị Phật thứ bảy.
 *Bảy vị Phật đó là: 1) Quá Khứ Tỳ Bà Thi Phật; 2) Thi Khí Phật; 3) Tỳ Xá Phù Phật; 4) Câu Lưu Tôn Phật; 5) Câu Na Hàm Mâu Ni Phật; 6) Ca Diếp Phật; 7) Thích Ca Mâu Ni Phật.
- Ngài tay phải chỉ lên trời, tay trái chỉ xuống đất và nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, nghĩa là “ Trên trời dưới đất, chỉ có cái ngã được tôn quý, ngã ở đây hàm ý là Phật tánh(Tánh giác ngộ)”.
          Thái tử lớn lên học thông suốt các môn và tài giỏi mọi mặt, đặc biệt là Thái tử rất thương người và loài vật. Khi còn nhỏ, thái tử thường hay thích ngồi tĩnh lặng một mình. Khi trưởng thành lúc 16 tuổi năm 608 trước tây lịch, thái tử kết hôn với công chúa Da Du Đà La (Yasodhara). Hai vợ chồng sanh ra một người con trai tên là La Hầu La (Rahura).
          Một hôm Thái tử xin vua cha ra kinh thành để dạo chơi khắp bốn cửa thành. Thái tử đến cửa thành thứ nhất, thì chợt thấy một cụ già chống gậy đi rất khổ sở và thái tử hỏi người hầu: “Tại sao người nầy già nua như vậy?”. Người hầu trả lời: “Thưa Thái tử! Ai sanh ra rồi cũng phải già khổ như vậy, không ai thoát khỏi cả”. Viếng cửa thành thứ hai, Thái tử thấy một người bệnh nằm đau đớn. Thái tử hỏi người hầu: “Sao người nầy bệnh vậy?”. Người hầu trả lời: “Thưa Thái Tử! Bệnh không tha cho ai hết. Già trẻ bé lớn gì cũng bị bệnh hết, không ai thoát khỏi cái bệnh cả”. Tiếp đến là cửa thành thứ ba, Thái tử chứng kiến một người chết đang hỏa thiêu. Thái tử hỏi người hầu: “ Sao người nầy chết thiêu như vậy?”. Người hầu đáp: “Thưa Thái tử! ai sanh ra rồi cũng phải già, phải bệnh. Bệnh là nguyên nhân đưa đến cái chết. Chết là kết thúc kiếp người. Thái tử cũng không thoát khỏi cái chết nầy”. Cuối cùng đến cửa thành thứ tư, Thái tử gặp một vị tu sĩ. Thái tử đến hỏi vị tu sĩ: “Tu tập thiền quán để làm gì?”. Vị tu sĩ trả lời: “Thưa Thái tử! tu tập thiền quán có thể giúp chúng ta thoát ly cái khổ sanh, già, bệnh và tử, thoát ly sanh tử luân hồi”. Sau khi nghe vị tu sĩ giảng dạy về con đường giải thoát sự vô thường lão bệnh, Thái tử giác ngộ, thấy được sự thật giả tạm của cuộc đời. Vì khi thân nầy chết đi, thì tất cả sự nghiệp của cuộc đời mất hết. Chỉ còn cái nghiệp thiện ác theo chúng sanh thôi. Qua đó mới thấy rằng thân nầy giả tạm, nên cuộc đời cũng chỉ tạm bợ mà thôi. Vì lý đó, thái tử đã quyết định về cung điện xin vua cha cho đi xuất gia tầm sư học đạo, nhưng vua cha không đồng ý, vì nhà vua chỉ có một đứa con trai là Thái tử để nối ngôi.
          Cuối cùng, Thái tử nữa đêm trốn ra kinh thành đi xuất gia tầm sư học đạo. Thái tử đi xuất gia lúc đó 19 tuổi, vào ngày 08 tháng 02 âm lịch năm 605 trước tây lịch. Thái tử đã tu học thiền định với nhiều vị thiền sư trong suốt 5 năm và đã thành tựu các bậc thiền ở cõi trời sắc giới và cõi trời vô sắc giới. Sau đó, Thái tử tu tập thiền quán 6 năm với 5 anh em Kiều Trần Như ở núi Tượng Đầu hay còn gọi là Khổ Hạnh Lâm. Trong thời gian tu tập nầy, Thái tử siêng năng tu tập và sống trong đại định. Vì thế, Thái tử quên ăn bỏ ngủ và đến lúc kiệt sức. Cũng may, nhờ nàng Suyata đi chăn bò đã phát tâm cúng sữa cho Thái tử, trong lúc Thái tử hết sức. Nàng Suyata là người cúng dường đầu tiên cho đức Phật.
          Ngày 08 tháng 12 ÂL năm 594 trước tây lịch, lúc 30 tuổi, Thái tử ngồi thiền quán 49 ngày dưới cây Bồ Đề và đã thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni ở Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya), thành phố Gaya, thủ đô Patna, nước Ma Kiệt Đà (Magatdha), tiểu bang Bihar, nước Ấn Độ.
Mặt tiền tháp Bồ Đề Đạo Tràng - Bodhgaya
Đức Phật thành đạo dưới cội Bồ Đề nầy
           Sau khi thành đạo, Ngài đi đến vườn Lộc Uyển (Sarnath), thành Ba Na Đại (Varanasi) thuyết bài pháp đầu tiên “Tứ Diệu Đế” cho 5 anh em Kiều Trần Như. Năm anh em đồng tu nầy sau khi nghe bốn chân lý đều giác ngộ chứng quả A La Hán. Bài pháp “Tứ Diệu Đế” là bài pháp đầu tiên. 
 
Tháp kỷ niệm nơi đức Phật gặp lại năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển 
 
Vườn nai (Sarnath) nơi đức Phật thuyết pháp đầu tiên
          Kế tiếp Ngài đi đến Thành Vương Xá –Rajgir, nước Ma Kiệt Đà (Magatdha), nơi trị vì của vua Tần Bà Sala và hoàng hậu Vi Đề Hi. Đức  Phật hóa độ và quy y Tam Bảo cho vua Tần Bà Sa La (Bimbisala). Đây là vị vua đầu tiên được đức Phật hóa độ. Sau đó, vua đã phát tâm cúng dường đức Phật mảnh đất làm Tịnh Xá và được gọi là Trúc Lâm Tịnh Xá. Đây là tịnh xá có đầu tiên.         
          Ông Cấp Cô Độc là người giàu có, rất có lòng thánh thiện giúp đỡ những người khổ, cô đơn. Ông sống trong thành Xá Vệ (Sravasti) do vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) trị vì đương thời. Ông đã cúng dường cho đức Phật tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana) ở thành Xá Vệ. Đây là tịnh xá thứ nhì đức Phật thành lập cho Tăng chúng tu học.
 
Tịnh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên tại thành Xá Vệ - Sravasti
         Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Maha Pajapati) là dì Mẫu của đức Phật đã được xuất gia ở thành Tỳ Xá Ly (Vajshali), cùng với 500 phụ nữ. Bà là người Ni đầu tiên được đức Phật cho xuất gia và Ni đoàn được thành lập từ nơi đây.
Thành Tỳ Xá Ly - Vajshali
          Sau khi thành đạo, đức Phật thuyết pháp độ cho các vị vua quan cho đến dân chúng, các tầng lớp trong xã hội, từ người xuất gia cho đến tại gia khắp nơi trong suốt 49 năm. Ngài đã viên thành việc hoằng pháp lợi sanh và thành lập Tam Bảo. Ngài đi về vùng Câu Thi Na (Kushinagar), thủ đô Pava, Xứ Malla, nhập đại định và an trú niết bàn dưới cây Sala Song Thọ.   Ngài nhập niết bàn lúc đó 80 tuổi, vào ngày 15 tháng 02 ÂL năm 544 trước tây lịch.
Tháp niết bàn (nơi đức Phật nhập niết bàn dưới cây
Sala Song Thọ)
Tượng nằm nhập niết bàn trong Tháp
Tháp trà tỳ (nơi hỏa táng)
          Ngài Ma Ha Ca Diếp (Maha Kassapa) là người đệ tử đầu tiên, được đức Phật truyền Y Bát, để lãnh đạo Tăng đoàn và tiếp nối mạng mạch Phật giáo. Sau khi Phật nhập niết bàn 100 ngày, Ngài làm chủ tọa tổ chức kết tập Kinh Điển ở động Thất Diệp, tại thành Vương Xá (Rajgir), nước Ma Kiệt Đà (Magatdha). Đây là lần kết tập Kinh Điển đầu tiên.
          Ngài A Nan là thị giả của đức Phật. Ngài đã giúp tôn giả Ca Diếp trùng tuyên giáo pháp của đức Phật trong lần kết tập Kinh Điển đầu tiên. Ngài là người thứ nhì được tôn giả Ca Diếp truyền Y Bát trong truyền thống thiền tông truyền thừa Y Bát. Các vị tổ đã truyền y bát với nhau cho đến tổ Huệ Năng là tổ thứ 33 trong thiền tông Phật giáo.
          Chư Tăng sau này thiết lập trường đại học Phật Giáo Nalanda thuộc thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà (Magatdha). Đây là trường đại học Phật giáo quốc tế đầu tiên ở Ấn Độ.

         

500 năm sau Phật giáo Ấn Độ được truyền khắp các nước là nhờ vua A Dục (Asoka). Đây là vị vua đầu tiên có công giúp cho Phật giáo được truyền ra nước ngoài.
 
MƯỜI VỊ ĐẠI ĐỆ TỬ CỦA ĐỨC PHẬT THÍCH CA
 1 – Đầu đà khổ hạnh  đệ nhất đại đức Ma Ha Ca Diếp Tôn Giả.
2 – Đa văn đệ nhất đại đức A Nan Đà Tôn Giả.
3– Trí huệ đệ nhất đại đức Xá Lợi Phất Tôn Giả.
4 – Giải không đệ nhất đại đức Tu Bồ Đề Tôn Giả.
5 – Thuyết pháp đệ nhất đại đức  Phú Lâu Na Tôn Giả.
6 - Biện luận đệ nhất đại đức Ca Chiên Diên Tôn Giả.
7 - Thần thông đệ nhất  đại đức Mục Kiền Liên Tôn Giả.
8 – Thiên nhãn đệ nhất  đại đức A Na Luật Tôn Giả.
9 – Trì luật đệ nhất đại đức  U Ba Ly Tôn Giả.
10 – Mật hạnh đệ nhất đại đức La Hầu La Tôn Giả.
 
33 VỊ TỔ THIỀN TÔNG
           Sau khi đức Phật nhập niết bàn. Ngài truyền y bát cho tổ Ma Ha Ca Diếp là người đại diện lãnh đạo Tăng đoàn. Các vị Tổ đã truyền y bát của Phật với nhau cho đến tổ Huệ Năng là vị Tổ thứ 33. Các vị Tổ đều là những bậc chứng đạo. Sau khi mãn việc hoằng pháp lợi sanh, các ngài không đợi cho thân nầy già, bệnh, rồi chết như những chúng sanh khác, mà các Ngài nhập định ra đi nhẹ nhàng như đức Phật. Đây là sự ra đi của những bậc liễu sanh thoát tử. Ngài Huệ Năng đã nhập định ra đi và để lại nhục thân bất hoại cho đến bây giờ ở chùa Nam Hoa, Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, nước Trung Hoa. Bên cạnh của ngài Huệ Năng còn có ngài Hám Sơn, ngài Đằng Điền. Ở núi Cửu Hoa Sơn nước Trung Hoa có ngài Kim Kiều Giác, ngài Vô Hà thiền sư, . . . Ở Việt Nam có ngài Đạo Chân và ngài Đạo Tâm đã để lại nhục thân tại chùa Đậu, thôn Gia Phúc, huyện Thường Tín, Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ), Việt Nam.

VỊ TỔ THIỀN TÔNG ẤN ĐỘ
1 -Tổ Ma Ha Ca Diếp, 2 - Tổ A Nan,
3 - Tổ Thương Na Hòa Tu, 4 - Tổ Ưu Ba Cúc Đa, 5 - Tổ Đề Đa Ca, 6 - Tổ Di Giá Ca,
7 - Tổ Bà Tu Mật, 8 - Tổ Phật Đà Nan Đề,
9 - Tổ Phục Đà Mật Đa, 10 - Tổ Hiếp Tôn Giả,
11 - Tổ  Phú Na Giạ Xa, 12 - Tổ Mã Minh,
13 - Tổ Ca Tỳ Ma La, 14 - Tổ Long Thọ,
15 - Ca Na Đề Bà, 16 - Tổ La Hầu La Đa,
17 - Tổ Tăng Già Nan Đề, 18 - Tổ Già Đa Xá Đa, 19 - Tổ Cưu Ma La Đa, 20 - Tổ Xà Dạ Đa,
21 - Tổ Bà Tu Bàn Đầu, 22 - Tổ Ma Noa La,
23 - Tổ Hạc Lặc Noa, 24 - Tổ Sư Tử,
25 - Tổ Bà Xá Tư Đa, 26 - Tổ Bát Như Mật Đa, 27 - Tổ Bát Nhã Đa La, 28 - Tổ Bồ Đề Đạt Ma.

6 VỊ TỔ THIỀN TÔNG TRUNG HOA
        Tổ Bồ Đề Đạt Ma là vị Tổ thứ 28 ở Ấn Độ. Ngài đã sang Trung Hoa truyền y bát cho ngài Huệ Khả và tiếp tục truyền cho đến ngài Huệ Năng là vị Tổ thứ 33 thiền tông Phật Giáo. Đối với Trung Hoa, ngài Huệ Năng là vị tổ thứ 6, cũng là người cuối cùng trong sự truyền thừa y bát. Vì ngài Huệ Năng chấm dứt sự truyền thừa nầy.
1- Tổ Bồ Đề Đạt Ma sơ tổ, 2- Tổ Huệ Khả, 3- Tổ Tăng Xán, 4- Tổ Đạo Tín, 5 - Tổ Hoằng Nhẫn, 6 - Tổ Huệ Năng.
 
Thiền sư Đằng Điền – Lục Tổ Huệ Năng – Thiền Sư Hám Sơn
(Lục Tổ Huệ Năng sanh năm 638, viên tịch năm 713 tại chùa Nam Hoa, Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa)
 
Thiền sư Đạo Chân – Thiền sư Đạo Tâm
Tại chùa Đậu, thôn Gia Phúc, huyện Thường Tín, Hà Nội
(tỉnh Hà Tây cũ), Việt Nam
 
KẾT TẬP KINH ĐIỂN   
  1. Kết tập Kinh Điển lần thứ nhất là năm 544 thời vua A Xà thế tại động Thất Diệp ở thành Vương Xá (Rajgir), nước Ma Kiệt Đà (Magadha), do ngài Maha Ca Diếp chủ tọa.
  2. Kết tập Kinh Điển lần thứ hai là năm 444 thời vua Kalasoka tại thành Tỳ Xá Ly (Vajsali), nước Vajji.
+ Phật giáo chia làm 2 bộ:
2.1. Thượng tọa bộ - Phật Giáo Nguyên Thủy – Nam Tông do ngài Da Xá (Yassa)
2.2. - Đại chúng bộ - Phật Giáo Phát Triển – Bắc Tông do nhóm Tăng chúng (Vajjiputta).
  1. Kết tập Kinh Điển lần thứ ba là năm 244 thời vua A Dục (Asoka) tại thành Pataliputta (Thủ đô Patna), do ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu (Moggaliputta – Tissa) làm chủ tọa.
  2. Kết tập Kinh Điển lần thứ tư:
A – Nam Tông: năm 200 thời vua Vatta Gamani Abhaya tại nước Tích Lan (Sri Lanka), dịch bằng tiếng Pali.
B - Bắc Tông: năm 200 thời vua Ca Nị Sắc
(Kaniska) tại Kudalavana, nước Kế Tân
(Kasmira), do ngài Mã Minh (Asvaghosa), tổ thứ 12 thiền tông làm chủ tọa, dịch bằng tiếng Sanscrit.
  1. Kết tập Kinh Điển lần thứ năm là năm 1871 thời vua Mindon – Mẫn Đông tại Mandalay, nước Miến Điện (Mynanmar).
  2. Kết tập Kinh Điển lần thứ sáu là năm 1954 vào dịp lễ Phật đản tại Rangoon, nước Miến Điện (Mynanmar).

 2. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ 
 
Ba Thời Kỳ Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ

THỜI HƯNG THỊNH (594 TCN – 185 TCN)

THỜI SUY VONG (185 TCN – 1526 CN)

THỜI PHỤC HƯNG (1858 CN – 2013 CN)

 I. THỜI HƯNG THỊNH TỪ 594 – 185 Trước Tây Lịch:
A) Sự hưng thịnh Phật giáo vào thời Đức Phật:
          Trước khi, Đức Phật ra đời, thì nước Ấn Độ đã có rất nhiều tôn giáo như Ấn giáo – Hindhuism, Đạo Kỳ Na Giáo hay còn gọi đạo lõa thể – đạo Jain, đạo Sikh, và các tín ngưỡng nhân gian .v.v. Kể từ khi Đức Phật ra đời, tu hành thành đạo và Ngài hoằng pháp cho đến khi nhập Niết Bàn, thì đạo Phật mới xuất hiện nơi đời. Căn cứ theo lịch sử truyền thống Phật giáo bắc tông – Mahayana Buddhism như sau:
  • Vào thế kỷ thứ 7 trước tây lịch ngày 15/04 ÂL năm 624, Đức Phật sanh ra tại vườn Lâm Từ Ni – Lumbini, nước Nepal bây giờ.
  • Vào ngày 08/02 ÂL năm 605 trước tây lịch, Đức Phật đi xuất gia lúc 19 tuổi.
  • Vào thế kỷ thứ 6 ngày 08/12 ÂL năm 594 trước tây lịch, Đức Phật thành đạo lúc 30 tuổi.
  • Vào thế kỷ thứ 6 ngày 15/02 ÂL năm 544 trước tây lịch, Đức Phật nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi
* Từ năm 594 – 544 trước tây lịch, Ngài đi hoằng pháp các nơi khoảng 49 năm. Trong thời gian nầy, các vua hộ trì sự hoằng pháp của Ngài như vua Tần Bà Sa La – Bimbisara King tại thành Vương Xá – Rajgir; Vua Ba Tư Nặc – Pasenadu King tại thành Xá Vệ – Sravasti. Trong thời gian nầy, Phật giáo bắt đầu lan truyền.
B) Sự hưng thịnh Phật giáo vào thời vua A Dục – Ashoka king (268 – 232 TCN):
          Vào thế kỷ thứ 3 từ năm 268 đến năm 232 trước tây lịch, Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong nước và hải ngoại qua thời vua A Dục.
Vua Ashoka sanh vào năm 304 trước tây lịch tại kinh thành Pataliputta (Thủ đô Patna, tiểu bang Bihar bây giờ). Vua cha là Bindusara Maurya; hoàng hậu là Devi Dharma. Hoàng hậu Devi Dharma (còn gọi là Subhadrangi hoặc Janapadkalyani) là con gái của một vị tu sĩ Bà La Môn (Tu sĩ Ấn Giáo) tại kinh thành Champa.
          Vua Bindusara Maurya là con trai của vua Chandragupta Maurya. Vua Chandragupta Maurya là ông nội của vua A Dục, là người đầu tiên sáng lập triều đại Maurya. Ông cũng đã từ bỏ ngai hoàng để làm tu sĩ đạo Kỳ Na Giáo (Đạo Jain).
          Từ năm 268 đến năm 232 trước tây lịch, vua Ashoka lên ngôi hoàng đế, đời thứ ba của triều đại Maurya. Khi lên hoàng đế, vua Ashoka đã mở rộng đế chế của mình từ vùng Assam phía đông đến Balochistan phía tây; từ vùng Pamir Knot ở nước A Phú Hãn - Afghanistan phía bắc tới vùng Peninsula ở phía nam. Vì mở rộng sự thống trị, vua A Dục đã giết chết biết bao nhiêu người. Nhiều người nói rằng ông là vị vua độc ác. 
  
Bản đồ Ấn Độ dưới thời vua A Dục
 
Vua A Dục - Ashoka và xá lợi của đức Phật
          Năm 263 trước tây lịch, vua Ashoka trở thành Phật tử. Ông biết rằng Phật giáo là nền tảng đạo đức, có lợi ích cho nhân loại, cho loài vật và cho thế giới. Vua đã có công ủng hộ phát triển Phật pháp như:
1 - Vua giúp xây dựng nhiều tu viện cho chư Tăng Ni tu học.
2 - Theo lịch sử Phật giáo, xá lợi của đức Phật được chia ra 8 nước. Vua Ashoka đã gôm tất cả xá lợi và xây dựng 84,000, cái tháp để thờ xá lợi của đức Phật khắp nước Ấn Độ.
3 – Vua cho khắc lịch sử của Đức Phật trên trụ đá sa thạch tại các Thánh tích. Nhờ vậy mà các nhà khảo cổ Anh Quốc và Ấn Độ mới tìm ra được di tích lịch sử của Đức Phật sau nầy.
4 – Vua ủng hộ kết tập Đại Tạng Kinh lần thứ ba tại thành Pataliputta (Thủ đô Patna, tiểu bang Bihar bây giờ), do sự chủ tọa Ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu -  Moggaliputta-Tissa vào năm 244 trước tây lịch.
5 - Ông cho phép thái tử Mahinda và công chúa Sanghamitta đi xuất gia và truyền bá đạo Phật sang nước Tích Lan (Srilanka). Sư cô Sanghamitta đã cắt nhánh cây Bồ Đề từ cây Bồ Đề nơi Đức Phật thành đạo đem sang trồng tại nước Tích Lan. Đặc biệt, Sư Cô là người đầu tiên lập giới đàn Ni và truyền giới tỳ kheo Ni tại nước Tích Lan.
6 – Vua đã tạo điều kiện cho chư Tăng hoằng pháp khắp nơi trong nước. Đặc biệt, Vua đưa chư Tăng đi hoằng pháp sang hải ngoại như nước Miến Điện, Tích Lan và các nước đông nam á. Vua A Dục – Ashoka là vị vua đầu tiên có công đưa các tu sĩ Phật giáo sang nước Miến Điện và các nước đông nam Á qua đường tơ lụa.
 
 

          Năm 232 trước tây lịch, vua A Dục băng hà. Triều đại Maurya có 9 đời, kéo dài từ năm 322 đến năm 180 trước tây lịch.
1 – Đời thứ nhất vua Chandragupta từ năm 322 đến năm 297 trước tây lịch.
2 - Đời thứ hai vua Bindisara từ năm 297 đến năm 268 trước tây lịch.
3 - Đời thứ ba vua Ashoka từ năm 268 đến năm 232 trước tây lịch.
4 - Đời thứ tư vua Dasharatha từ năm 232 đến 224 trước tây lịch.
5 - Đời thứ năm vua Samprati từ năm 224 đến năm 215 trước tây lịch.
6 - Đời thứ sáu vua Shalishuka từ năm 215 đến năm 202 trước tây lịch.
7 - Đời thứ bảy vua Devavarman từ năm 202 đến năm 195 trước tây lịch.
8 - Đời thứ tám vua Shatadhanvan từ năm 195 đến năm 187 trước tây lịch.
9 - Đời thứ chín vua Brihadratha từ năm 187 đến năm 180 trước tây lịch.
          Vào thế kỷ thứ 3 năm 268 trước tây lịch đến thế kỷ 20 năm 1947 sau tây lịch, Vua A Dục là người thống lãnh các kinh thành trở thành một nước. Nước A Phú Hãn – Afghanistan, Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ là một quốc gia kể từ thời vua A Dục. Vậy, nước Ấn Độ thống nhất đất nước là gần 23 thế kỷ. Sau khi, Anh Quốc trao trả độc lập cho Ấn Độ vào thế kỷ 20 năm 1947, thì nước Ấn Độ bị chia thành 4 quốc gia. Đó là Afghanistan, Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ bây giờ.
1 - Quý vị tham khảo chi tiết qua trang nhà lịch sử vua A Dục. Nếu muốn đọc tiếng Việt thì bấm vào nút dịch:
 https://en.wikipedia.org/wiki/Ashoka
2 – Quý vị tham khảo trang nhà Phật giáo Ấn Độ
https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Buddhism
+ Tóm lại:
          Từ thế kỷ thứ 6 năm 594 trước tây lịch là năm Đức Phật thành đạo và đạo Phật bắt đầu được lan truyền. Mãi cho đến thế kỷ thứ 2 năm 185 trước tây lịch, Trong thời gian nầy, Phật giáo rất hưng thịnh, thanh bình và được các vua quan và dân chúng tín ngưỡng, ủng hộ trong suốt 4 thế kỷ.

II. THỜI ĐẠI SUY VONG CỦA PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ TỪ THẾ KỶ THỨ 2 NĂM 185 TRƯỚC TÂY LỊCH – THẾ KỶ THỨ 16 NĂM 1526 SAU TÂY LỊCH:

1. Từ thế kỷ thứ 2 năm 185 trước tây lịch đến đầu thế kỷ 13 năm 1206 sau tây lịch, đây là thời đại của vua Ấn giáo – Brahma king trị vì:
Chúng ta biết rằng sau thế kỷ thứ 16, Phật giáo Ấn Độ đã bị xóa sổ bởi các thế lực tôn giáo bạn.
1 - Tất cả tu sĩ Phật giáo bị chặt đầu và giết sạch.
2 - Tất cả tu viện đều bị đập phá sạch.
3 - Tất cả Kinh sách đều bị đốt sạch.
4 - Tất cả tín đồ Phật giáo đều bị đàn áp và cấm đoán.
          Căn cứ trong lịch sử nước Ấn Độ, vào thế kỷ thứ 2 năm 185, ông Pushyamitra Shunga là một vị tướng quân người Ấn Giáo của triều đại Maurya. Ông đã ám sát vị vua cuối cùng của triều đại Maurya, vua Brahadratha Maurya. Sau đó, ông lên ngôi, tự xưng vua Pushyamitra Shunga và ông ta thành lập triều đại Shunga. Triều đại Shunga kéo dài 50 năm, từ năm 185 đến năm 73 trước tây lịch. Ông thù hiềm với Phật giáo và tín đồ Phật giáo. Ông đã khủng bố niềm tin của Phật tử. Ông đã ra lệnh đập phá hàng trăm tu viện, giết hàng trăm ngàn tu sĩ Phật giáo. 840.000, tháp Phật giáo đều bị đập phá .v.v. Ông ban thưởng 100 tiền vàng cho người chặt 1 cái đầu của tu sĩ Phật giáo.
          Vua Pushyamitra Shunga là vị vua đầu tiên khởi sự tiêu diệt Phật Giáo Ấn Độ. Sau đó, các đời vua Ấn Độ tiếp theo đó đàn áp và tiêu diệt Phật giáo lần lần đến thế kỷ thứ 13 năm 1206.
Quý vị có thể tham khảo đường nối kết nầy.
1 – Lịch sử nước Ấn Độ:
https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_India
2 – Lịch sử triều đại vua Ấn Giáo Pushyamitra Shunga:
https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Buddhism#Shunga_dynasty_(2nd%E2%80%931st_century_BCE)
.https://en.wikipedia.org/wiki/Pushyamitra_Shunga
3 - Phim Ấn Độ Teesri Azadi kể về một vị vua Ấn Giáo ra lệnh tiêu diệt Phật giáo
 
https://www.youtube.com/watch?v=wM98m3mkS1w
 
2. Từ đầu thế kỷ 13 năm 1206 đến thế kỷ 16 năm 1526, đây là thời đại của vua Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ – Turkic Muslim:
          Trong lịch sử Ấn Độ có kể lại vào đầu thế kỷ 13 năm 1206, một vị tướng quân hồi giáo tên là Muhammad bin Bakhtiyar Khalji. Ông đã dẫn đội quân Thổ Nhĩ Kỳ sang xâm chiếm các tiểu lục địa miền tây bắc Ấn Độ như là Afghanistan, Pakistan và thành phố Delhi bây giờ .v.v. Đặc biệt, họ đã tiêu diệt Phật giáo, nhất là đốt luôn trường đại học Phật giáo Nalanda .v.v. Sau đây là trích đoạn của trang nhà của các nhà nghiên cứu lịch sử tôn giáo.
+ Trang nhà tham khảo:
          Đế chế cuối cùng hỗ trợ Phật giáo, triều đại Pala , sụp đổ vào thế kỷ thứ 12, và Muhammad bin Bakhtiyar Khalji , một vị tướng của Vương quốc Hồi giáo Delhi đầu tiên , phá hủy các tu viện và tượng đài và truyền bá đạo Hồi ở Bengal . [79] Theo Randall Collins, Phật giáo đã suy tàn ở Ấn Độ trước thế kỷ thứ 12, nhưng với sự cướp bóc của những kẻ xâm lược Hồi giáo, nó gần như bị tuyệt chủng ở Ấn Độ vào những năm 1200. [89] Vào thế kỷ 13, tiểu bang Craig Lockard, các tu sĩ Phật giáo ở Ấn Độ đã trốn thoát đến Tây Tạng để thoát khỏi cuộc đàn áp Hồi giáo; [90]trong khi các nhà sư ở miền tây Ấn Độ, bang Peter Harvey, thoát khỏi cuộc đàn áp bằng cách di chuyển đến các vương quốc Ấn Độ giáo phía nam Ấn Độ có khả năng chống lại sức mạnh Hồi giáo. [91]
         Vậy, từ thế kỷ thứ 2 năm 185 trước tây lịch đến thế kỷ 16 năm 1526 sau tây lịch tổng cộng là 18 thế kỷ; Phật giáo Ấn Độ bị đàn áp, tiêu diệt, suy vong bỡi Ấn Giáo và Hồi Giáo. Do đó, Phật giáo hoàn toàn vắng mặt trên toàn cõi nước Ấn Độ.
 + PHẦN BÌNH LUẬN:
          Có người cho rằng quân Hồi giáo sang xâm chiếm Nước Ấn Độ vào đầu thế kỷ 13 năm 1206; Kể từ đó, Hồi giáo tiêu diệt sạch Phật giáo.
+ Trả lời:
  • Hồi giáo chỉ chiếm một vài tiểu lục địa của Ấn Độ, thì họ không thể tiêu diệt Phật giáo toàn quốc. Huốn chi, chúng ta đã biết Phật giáo đã có mặt khắp nước Ấn và cả hải ngoại vào thời vua A Dục – Ashoka (268 -232 TCN).
  • Nếu Hồi giáo tiêu diệt sạch Phật giáo, thì tại sao không tiêu diệt luôn Ấn giáo và các tôn giáo khác. Tại sao họ chỉ nhắm vào Phật giáo thôi. Trong lúc hiện nay Ấn giáo là 79% của dân số Ấn; Hồi giáo có khoảng 17%.
  • Trong các viện bảo tàng quốc gia ở thủ đô Delhi, Sarnath có trưng bày sự đỗ nát, tàn phá của Hồi giáo, nhưng đa phần là của Ấn giáo nhiều hơn Phật giáo. Do đó, các nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo đã bị tiêu diệt đa phần trước khi Hồi giáo sang xâm chiếm.
  • Đặc biệt trong lịch sử Ấn Độ cho thấy, các vua Ấn giáo đã ra lệnh tiêu diệt Phật giáo lần lần qua các triều đại vua Ấn giáo.
Qua lịch sử, các nhà tôn giáo chứng minh rằng Ấn giáo và Hồi giáo chung tay tiêu diệt Phật giáo.

III. THỜI ĐẠI PHỤC HƯNG (1858 – 2013 CN):

          Vào thế kỷ 19 năm 1858 – Thế kỷ 20 năm 1947, Ấn Độ là thuộc địa của Anh Quốc; Tổng cộng là 89 năm. Trong thời đại nầy, Phật giáo bắt đầu phục hồi trở lại dần dần qua 4 vị  Phật tử như 1) Ông Alexander Cunningham, 2) Ông Anagarika Dhammapala, 3) Ông Ambekar, 4) Ông goenka:
A – Sự phục hưng qua 4 vị Phật tử:
    1. Nhà khảo cổ học Alexander Cunningham (1814 – 1893 CN):
Ông Alexander Cunningham
  • Phần giới thiệu:
          Nhà khảo cổ học Alexander Cunningham thật ra là một vị Thiếu tướng quân đội Anh. Ông sanh ra ngày 23 tháng 1 năm 1814 tại thủ đô London, Anh Quốc; Ông qua đời ngày 28 tháng 11 năm 1893. Ông cũng là một kỹ sư quân đội người Anh với Nhóm kỹ sư Bengal . Ông sau này quan tâm đến lịch sử và khảo cổ của Ấn Độ. Năm 1861, ông được bổ nhiệm vào vị trí mới, thành lập nhà khảo sát khảo cổ học cho chính phủ Ấn Độ ; và ông đã thành lập tổ chức Cơ quan Khảo sát Khảo cổ học của Ấn Độ .
Phần giới thiệu trích đoạn từ trang nhà bên dưới. Quý vị có thể tham khảo.
https://en.wikipedia.org/wiki/Alexander_Cunningham
         Anh quốc chiếm nước Ấn Độ làm thuộc địa vào thế kỷ 19 năm 1858. 3 năm sau, vào năm 1861, Ông Alexander Cunningham sáng lập ban Khảo Sát Khảo Cổ của nước Ấn Độ – Archaeological Survey of India, viết tắt ASI, trụ sở tại 24 Tilak Marg, New Delhi, India, 110001. Ông cũng là giám đốc trực tiếp điều hành ban Khảo Sát Khảo Cổ nầy. Ban Khảo Sát khảo Cổ đã tìm lại các di tích lịch sử ở Ấn Độ. Nhờ vậy mà các di tích lịch sử của Đức Phật đều được khai quật. Ông có công rất lớn cho Phật giáo và các tín đồ Phật giáo cả thế giới. Ngày nay, người con Phật khắp nơi trên thế giới được viếng thăm di tích của Đức Phật là nhờ ông Alexander Cunningham. Chúng ta phải thành tâm niệm ân nhà khảo cổ học Alexander Cunningham.
  • Quý vị có thể tham khảo thêm qua trang nhà bên dưới:
https://en.wikipedia.org/wiki/Archaeological_Survey_of_India
    2. Ông Anagarika Dhamma (1864 – 1933 TCN):
Ông Anagarika Dhammapala
  • Phần giới thiệu:
          Ông Anagarika Dharmapala sanh ngày 17 tháng 9 năm 1864 – ngày 29 tháng 04 năm 1933, hưởng thọ 69 tuổi, tại Colombo, Ceylon (nay là Sri Lanka), là một trong những tín đồ Phật giáo đáng tôn kính nhất trong thế kỷ 20. Với sự giúp đỡ của Henry Steel Olcott và Helena Petrovna Blavatsky , ông đã trở thành một nhà cải cách lớn và người phục hưng của Phật giáo Sri Lanka và là một nhân vật rất quan trọng trong truyền tải Phật giáo phương Tây. Ông đã phát biểu tại Quốc hội Tôn giáo Thế giới năm 1893. Sau khi, các di tích Phật giáo được khai quật, thì các tu sĩ Ấn giáo chiếm dụng và xây thêm các đền thờ Ấn giáo trong các Thánh tích. Do đó, Ông đã thưa kiện để dành lại các Thánh tích cho Phật giáo. Ông đã thành lập Hội Maha Bodhi Society tại Ấn Độ vào ngày 31 tháng 05 năm 1891 để quản lý và khôi phục các đền thờ Phật giáo linh thiêng cho đến ngày nay như Tháp Bồ Đề Đạo Tràng tại làng Bodhgaya, Tháp Chuyển Pháp Luân tại vườn Lộc Uyển - Sarnath, Tháp Trà Tỳ tại thành Câu Thi Na - Kushinagar.
Hội của Ông không những hoạt động tôn giáo, mà còn lo giáo dục, và từ thiện xã hội. Ông là người có công rất lớn đối với việc phục hưng Phật giáo Ấn Độ.
 
+ Phần trích đoạn trong trang nhà bên dưới:
https://theosophy.wiki/en/Anagarika_Dharmapala
Vào ngày 31 tháng 5 năm 1891, Hội Budh-Gaya Mahabodhi được thành lập. Linh mục tối cao của Ceylon H. Sumangala là Chủ tịch, Đại tá Olcott là Giám đốc và Cố vấn trưởng, và Dharmapala là Tổng Bí thư. Hội mới đã thu hút sự đóng góp để duy trì một đội ngũ nhân viên tại địa điểm của Phật Gaya. Hội đã triệu tập một hội nghị Phật giáo quốc tế tại Phật Gaya vào tháng 10 năm 1891. Trụ sở chính được thành lập tại Calcutta (nay là Kolkata). Một tạp chí, The Maha Bodhi bắt đầu xuất bản vào năm 1892, với Dharmapala làm biên tập viên trong nhiều năm.
Khi ở lại Anh vào năm 1893, ông đã liên lạc với William Rhys Davids , người sáng lập Hội văn bản Pāli, để được tư vấn về ngôi đền. [24] Trong suốt một số năm, Hội Maha Bodhi đã thành công trong việc khôi phục các điện thờ Phật giáo cổ tại Bodh Gaya, Sarnath và Kushinara. Sự quyên góp đáng kể của nhà thông thái học Hawaii Mary E. Foster đã tạo điều kiện cho công việc này.
          Hội có hiệu quả trong việc nâng cao ý thức của Phật tử về di sản của họ ở Ấn Độ và Tích Lan, và trong việc nâng cao kiến ​​thức về Phật giáo trong thế giới phương Tây. Trong những năm gắn bó với Hội, Dharmapala đã thành lập Trung tâm Upasana, thư viện, trường học, cao đẳng, trại trẻ mồ côi và bệnh viện ở Ấn Độ và Sri Lanka để phục vụ công chúng. Ông là một người ủng hộ mạnh mẽ độc lập cả ở Ấn Độ và Sri Lanka.
         Các Hội Bodhi Maha của Ấn Độ tiếp tục tích cực trong Kolkata, và các tổ chức có liên quan đang ở Bangalore, Chennai, Colombo, và các nơi khác.
    3. Ông Ambekar (1891 – 1956 CN):
Bhimrao Ramji Ambedkar 
          Bhimrao Ramji Ambedkar sanh ngày 14 tháng 4 năm 1891 – mất ngày 6 tháng 12 năm 1956, hưởng thọ 64 tuổi, còn được gọi là Babasaheb Ambedkar, là một luật sưnhà kinh tếchính trị gia và nhà cải cách xã hội Ấn Độ, người đã truyền cảm hứng cho phong trào Phật giáo Dalit và vận động chống lại sự phân biệt đối xử xã hội đối với những người bất khả xâm phạm ( Dalits ). Ông là Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Tư pháp đầu tiên của Ấn Độ và là kiến ​​trúc sư trưởng của Hiến pháp Ấn Độ .
          Ambedkar là một sinh viên sung mãn, lấy bằng tiến sĩ kinh tế tại cả Đại học Columbia và Trường Kinh tế Luân Đôn , và nổi tiếng là một học giả cho nghiên cứu về luật, kinh tế và khoa học chính trị. [15] Trong sự nghiệp ban đầu của mình, ông là một nhà kinh tế, giáo sư và luật sư. Cuộc sống sau này của ông được đánh dấu bằng các hoạt động chính trị của ông; ông tham gia vào chiến dịch và đàm phán đòi độc lập của Ấn Độ, xuất bản các tạp chí, ủng hộ các quyền chính trị và tự do xã hội cho Dalits, và đóng góp đáng kể vào việc thành lập nhà nước Ấn Độ. Năm 1956, ông chuyển đổi sang Phật giáo , khởi xướng chuyển đổi hàng loạt Dalits. 
          Qua lịch sử, chúng ta thấy Ông là người đóng góp lập hiến pháp cho nước Ấn Độ khi mới độc lập vào năm 1947. Đặc biệt, vào ngày 14 tháng 10 năm 1956, Ông đã trở thành Phật tử và Ông đã hướng dẫn 500.000, người quy y Tam Bảo tại thành phố Nagpur, tiểu bang Maharashtra. Sau 2 tháng, Ông qua đời vào ngày 06 tháng 12 năm 1956. Giờ, các Phật tử ở Ấn Độ đều thờ Ông như là người khai sơn Phật giáo thứ hai. Vậy, Ông là người có công rất lớn trong việc hoằng pháp và quy y Tam Bảo cho tín đồ Phật tử. Đây là sự đóng góp rất lớn cho sự phục hưng Phật giáo Ấn Độ.

+ Trích đoạn trang nhà bên dưới. Quý vị muốn biết thêm chi tiết, thì bấm vào trang nhà.
https://en.wikipedia.org/wiki/B._R._Ambedkar
    4.  Ông Goenka (1924 – 2013 CN):
Ông Goenka
+ Phần giới thiệu:
          Ông Goenka sanh ra tại Mandalay, là cố đô nước Miến Điện – Myanmar, vào ngày 29 tháng 01 năm 1924 và qua đời vào ngày 29 tháng 09 năm 2013, hưởng thọ 89 tuổi tại Mumbai, tiểu bang Maharashtra, India, là cố đô của nước Ấn Độ bây giờ. Ông xuất thân từ gia đình người Ấn Độ, theo đạo Ấn giáo. Ông được sinh ra và lớn lên ở nước Miến Điện. Ông có duyên học thiền Tứ Niệm Xứ – Vipassana qua thiền Sư U Ba Khin 14 năm. Năm 1969, Ông trở về Ấn Độ dạy thiền. Ông đã mở khoảng 202 trung tâm thiền khắp nước Ấn độ và Ông đã hoằng pháp ở Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu và Trung Đông .v.v. Mặc dù, Ông đã qua đời, nhưng các trung tâm thiền của Ông vẫn sinh hoạt bình thường. Qua sự hoằng pháp của Ông, chúng ta nhận thấy Ông có công rất lớn trong việc hoằng pháp phục hưng Phật giáo Ấn Độ trong thế kỷ 20 và 21. Bốn vị Phật tử tại gia nầy có công rất lớn thời kỳ phục hưng Phật giáo Ấn Độ.
          Sau đây mời quý vị đọc phần trích đoạn và tham khảo qua trang nhà bên dưới:
https://en.wikipedia.org/wiki/S._N._Goenka
Ông Goenka sinh ngày 29 tháng 1 năm 1924 tại Miến Điện (nay là Myanmar) với cha mẹ là người Ấn Độ thuộc dân tộc Marwari , Goenka lớn lên trong một gia đình sanatani theo đạo Hindu bảo thủ . [1] Ông là một doanh nhân thành đạt, khi vào năm 1955, ông bắt đầu trải qua chứng đau nửa đầu nghiêm trọng, suy nhược . [2] [3] Không thể tìm thấy cứu trợ y tế, và theo gợi ý của một người bạn, anh đã gặp giáo viên Vipassana Sayagyi U Ba Khin . Mặc dù ban đầu miễn cưỡng, Ba Khin đã đưa anh vào làm học sinh. [4] [5] [6] Goenka sau đó được đào tạo trong 14 năm. [4] [7]
          Năm 1969, Goenka được Sayagyi U Ba Khin ủy quyền giảng dạy , người qua đời năm 1971. Ông rời bỏ công việc kinh doanh của mình và chuyển đến Ấn Độ, nơi ông bắt đầu trung tâm thiền Vipassana đầu tiên tại Kusum Nagar ở Hyderabad. Bảy năm sau, năm 1976, ông mở trung tâm thiền đầu tiên của mình, Dhamma Giri.
 Igatpuri gần Nashik , Maharashtra . Ông tự dạy thiền cho đến năm 1982, và sau đó bắt đầu đào tạo trợ lý giáo viên. Ông thành lập Viện nghiên cứu Vipassana tại Dhamma Giri năm 1985. [4] [7]
Ngay từ đầu, ông đã dạy các khóa thiền thiền chuyên sâu kéo dài 10 ngày và đến năm 1988 đã dạy cho nhiều người, trong đó có vài nghìn người phương Tây. [số 8]
Ngày nay, các khóa học Vipassana, theo truyền thống của Sayagyi U Ba Khin, được tổ chức tại 341 địa điểm ở 94 quốc gia, trong đó có khoảng 202 trung tâm thiền Vipassana vĩnh viễn. [9] Có những trung tâm như vậy ở Argentina, Úc, Áo, Bỉ, Brazil, Campuchia, Canada, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hồng Kông, Indonesia, Iran, Israel, Ý, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, Mông Cổ, Myanmar, Nepal, New Zealand, Philippines, Ba Lan, Nga, Nam Phi, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Sri Lanka, Singapore, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Đài Loan, Thái Lan, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và 78 trung tâm ở Ấn Độ. [4] [7] [10]
          Vào năm 2000, Goenka đã đặt nền móng của chùa Vipassana toàn cầu cao 325 ft , gần bãi biển Gorai , ở Mumbai, khai trương năm 2009, và có xá lợi của Đức Phật và một thiền đường. [4] Nó được xây dựng như một sự tôn vinh dành cho giáo viên của mình, người đã muốn trả lại khoản nợ cho Ấn Độ, vùng đất xuất xứ của Vipassana. Tuy nhiên, không giống như người được bảo hộ của mình, U Ba Khin không thể có được hộ chiếu, và do đó đã không thể đích thân đi du lịch đến Ấn Độ. [1]
B-- Phục hưng qua chư Tăng hải ngoại:
          Nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo Ấn Độ du nhập vào nước Trung Hoa, nước Miến Nước, nước Tích Lan và các nước Đông Nam Á .v.v. Nay, các nước Phật giáo hải ngoại truyền vào lại nước Ấn Độ qua phía Đông Bắc và phía Nam Ấn.
+ Phật giáo Miến Điện truyền vào nước Ấn Độ từ phía Đông Bắc:
          Ấn Độ có 29 tiểu  bang. Đặc biệt 7 tiểu bang miền đông bắc Ấn có nhiều người dân tộc Chakma sinh sống. Họ hầu như theo tín ngưỡng đạo Phật. 7 tiểu bang nhỏ đó được bao bọc bỡi quốc gia như nước Bhutan, nước Trung Quốc, nước Miến và nước Bangladesh. Phía đông tiểu bang Nagaland, Manipur, Mizoram giáp với Miến Điện; phía bắc tiểu bang Anuruchal Pradesh giáp với Trung Quốc; Phía tây bắc tiểu bang Assam giáp với Bhutan; phía tây nam tiểu bang Meghalaya và Tripura nước Bangladesh. Ngoài những Phật tử tại gia, cũng có một số người Phật tử xuất gia làm tu sĩ Phật giáo. Lý do, các Sư Miến sang các vùng biên giới nơi đây hoằng pháp khoảng vào thế kỷ 19. Nhờ vậy mà các Sư Chakma đi hoằng pháp khắp Ấn Độ.
+ Phật giáo Tích Lan truyền vào nước Ấn Độ từ phía Nam Ấn:
          Vào ngày 31 tháng 5 năm 1891, Ông Dhammapala thành lập hội Mahabodhi Society để quản lý các Thánh tích Phật giáo. Đồng thời, Ngài đưa chư Tăng Sri Lanka sang Ấn Độ để trực tiếp điều hành các cơ sở của hội. Do đó, các vị Tăng Sri Lanka đã hoằng pháp và nhận Phật tử Ấn xuất gia làm tu sĩ Phật giáo. Giờ, chúng ta thấy có các vị Sư Ấn ở các Thánh tích.
          Chúng ta cũng phải ngưỡng mộ và tri ân sự đóng góp của các vị Sư hải ngoại và các cư sĩ Phật tử cho việc phục hưng Phật giáo Ấn Độ trong suốt thời gian từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 21. Tuy nhiên, con số thống kê của về tôn giáo Ấn Độ, thì Phật giáo cũng chỉ có 0,7% của dân số Ấn. Chúng tôi xin cầu nguyện cho bánh xe pháp giác ngộ thường chuyển để cho nhân sinh lợi lạc.
 
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Chùa Phật linh ngày 22/09/2020
 ĐĐ Thích Hạnh Định

TÌM HIỂU VỀ PHẬT GIÁO      

GIỚI THIỆU
          Chúng ta muốn tìm hiểu về Phật giáo, thì chúng ta phải nghĩ mình là nhà nghiên cứu. Nhà nghiên cứu luôn mở rộng tâm của mình và có cái nhìn khách quan, thì chúng ta mới nhận định đúng sai, chánh tà chính xác hay nói cách khác là chúng ta sẽ hiểu vấn đề một cách có chánh kiến.
         Phật giáo hướng dẫn mọi người trao dồi đạo đức cá nhân và làm sao sống được an lạc. Nhất là Đức Phật dạy cho chúng sanh làm sao tu tập thành Thánh, thành Bồ Tát và thành Phật; Ngõ hầu, chúng sanh thoát ly cái khổ sanh tử luân hồi.
Bạn muốn tìm hiểu về tôn giáo nói chung hay Phật giáo nói riêng thì bạn có thể tìm hiểu qua 3 đề mục sau đây: 1) Lịch sử Phật giáo; 2) Lịch sử đối tượng tin của Phật giáo; 3) Phật pháp (Giáo lý).
 
Nội dung
I. Lịch sử Phật giáo
    1. Lịch sử Phật giáo.
    2. Ai là người sáng lập ra Phật giáo?
    3. Đối tượng tín ngưỡng Phật giáo là ai? 
II. Lịch sử đối tượng tín ngưỡng của Phật giáo
    1. Lịch sử của đối tượng tin Phật giáo.
    2. Sự tu hành đối tượng niềm tin.
    3. Khả năng của đối tượng niềm tin. 
III. Phật pháp - giáo lý
    1. Ngài đã giảng dạy cho ai?
    2. Ngài đã giảng dạy ở đâu ?
    3. Ngài thuyết pháp khi nào?

I. LỊCH SỬ PHẬT GIÁO:

    1. Phật giáo có khi nào?
         Theo lịch sử Phật giáo bắc tông, đạo Phật có vào ngày mùng 08 tháng 12 ÂL năm 594 trước tây lịch tại Bồ Đề Đạo Tràng, làng Bodhgaya, thành phố Gaya, thủ đô Patna, tiểu bang Bihar, nước Ấn Độ.
    2. Ai là người sáng lập Phật giáo?
         Phật giáo được sáng lập bỡi một vị thái tử, tên là Sĩ Đạt Ta – Siddhattha. Ngài tu tập thiền định và thiền quán thành Phật, pháp danh là Phật Thích Ca Mâu Ni.
    3. Ai là Đối tượng tin của Phật giáo?
         Đối tượng tin của Phật giáo cũng là Thái Tử Sĩ Đạt Ta. Ngài xuất gia tu hành và thành một vị Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Ngài không những là một vị sáng lập đạo Phật mà còn được tôn thờ là một vị đạo Sư. Phật tử tôn thờ Ngài là một đấng thiêng liêng ban ân huệ và cứu độ chúng sanh. Thế nào là một vị Phật?
    3.1. Đức Phật là bậc giác ngộ (hiểu biết):
Ngài đã giác ngộ được Thế Tục Đế (Sự thật của cuộc đời) và chân đế (Sự thật của chân tâm, Phật tánh)
  1. Thế Tục Đế (Sự thật của cuộc đời):
Đức Phật dạy rằng cuộc đời là khổ. Con người có 2 cái khổ, là cái khổ về thân và cái khổ về tâm.
a) Cái khổ về tâm: cầu không được như ý là khổ; sự chia ly vĩnh biệt với người thân là khổ; Ở gần với người thù hận là khổ.
b) Cái khổ về thân: Cái khổ của sanh ra; cái khổ của sự già; cái khổ của bệnh và cái khổ của sự chết.
2) Sự thật của chân tâm:
Chân tâm là không phiền não, khổ đau, không tham, sân, si; Chân tâm là sự an lạc, vắng lặng, thanh tịnh hay còn gọi là Niết Bàn.
Đức Phật dạy luật nhân quả và luật vô thường. Đây là nguyên lý chung của vũ trụ nhân sinh. Nguyên lý nầy là sự thật của cuộc đời.

    3.2. Đức Phật là bậc giải thoát sanh tử luân hồi:

Đức Phật là bậc xuất thế, thoát ly sanh tử luân hồi. Bậc xuất thế là họ muốn sống hay muốn chết tùy ý qua sự nhập định và xuất định. Vì Ngài tu giới, tu định, tu huệ và đã đạt được cứu cánh Niết Bàn.

     3.3. Đức Phật là bậc thanh tịnh:

         Ngài tu tập và chứng các bậc thiền định, cùng thành tựu 6 loại thần thông như 1) Thiên nhãn thông (Mắt thấy thông suốt), 2) Thiên nhĩ thông (Tai nghe thông suốt), 3) Thần túc thông (Thân biến hiện tùy ý),  4) Túc mạng thông (Biết thông suốt chuyện quá khứ), 5) Tha tâm thông (Thông suốt tâm ý người khác), 6) Lậu tận thông ( Trí huệ thông suốt diệt sạch vô minh). Ngài luôn sống trong an định, nên thân tâm của Ngài luôn luôn thanh tịnh.

     3.4. Đức Phật là bậc trí huệ:

          Ngài chỉ dạy chúng sanh rất nhiều phương pháp tu tập để diệt trừ phiền não, khổ đau và hướng dẫn người phàm phu tu tập thành Thánh A La Hán.

    3.5. Đức Phật là bậc đại từ bi:

          Ngài nguyện cứu độ tất cả chúng sanh. Ngài không trừng phạt ai, không đưa ai xuống địa ngục. Ngược lại, Ngài nguyện xuống địa ngục cứu độ chúng sanh.        

II. LỊCH SỬ ĐỐI TƯỢNG TIN CỦA PHẬT GIÁO:

    1. Lịch sử của đối tượng tin Phật giáo.
Dẫn chứng qua lịch sử của đức Phật
Đức Phật là một vị Thái Tử, tên là Sĩ Đạt Ta – Siddatha, vua cha tên là Tịnh Phạn (Suddhodana) và mẹ là bà Hoàng hậu Maya, gia đình sống trong kinh thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), nước Ấn Độ (India). ( Xin xem lịch sử của Ngài chi tiết bên trên).
    2. Sự tu hành của Đức Phật:
         Đức Phật tu tập tam vô lậu học. Tam vô lậu học gồm có tu giới, tu định và tu huệ.
a) Tu giới:
Tu giới là tu tập giữ giới cho thân đừng tạo nghiệp ác.
Ví dụ như giới sát sanh. Bất cứ ai phạm giới giết người thì cảnh sát sẽ bỏ họ vào nhà tù. Nhưng nếu ai giữ được giới sát sanh. Nghĩa là giới sát sanh giúp cho thân của họ không phải ngồi tù. Vậy, giới của Phật giúp nhân sinh nhân loại tránh tạo nghiệp ác.
b) Tu định:
         Định là giúp cho tâm không loạn động, tập trung tốt, an lạc và thanh tịnh. Định là quả của nhân tu thiền chỉ hay nói cách khác, tu thiền chỉ sẽ đạt đến định.
Ví dụ: Thiền quán sổ tức.
c) Tu huệ:
         Huệ giúp cho chúng ta diệt trừ phiền não, khổ đau và vô minh. Phiền não, khổ đau xuất phát từ tham lam, sân hận, si mê .v.v. Huệ là quả của tu thiền quán hay nói cách khác là tu tập thiền quán sẽ đạt đến trí huệ.
Ví dụ: Thiền tứ niệm xứ gồm 1) Quán thân bất tịnh; 2) Quán tâm vô thường; 3) Quán thọ thị khổ; 4) Quán pháp vô ngã.
    3. Khả năng của đối tượng tin của Phật giáo:
         Đức Phật có khả năng hướng dẫn mọi người tu tập bỏ ác làm lành, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm nhân thành A La Hán, thành Bồ Tát và thành Phật qua nhiều phương pháp tu tập thiền định và thiền quán. Bỡi vì, đức Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh; Tất cả chúng sanh vẫn có thể thành Phật”.
III. PHẬT PHÁP – GIÁO LÝ:
Đức Phật dạy nhân sinh 1) Về chân lý; 2) Tìm hiểu luật nhân quả; 3) Tìm hiểu sự luân hồi sanh tử của chúng sinh; 4) Báo ân cha mẹ; 5) Không làm các điều ác để trao dồi đạo đức cá nhân; 6) Làm các điều thiện để tạo nghiệp thiện; 7) Làm sao sống an lạc và giữ tâm thanh tịnh; 8) Làm sao diệt vô minh và thoát ly sanh tử luân hồi. 9) Cuối cùng, Đức Phật mục đích hướng dẫn chúng sanh tu tập thành Thánh, thành Bồ Tát và thành Phật.
    1. Đạo Phật là đạo chân lý:
         Đức Phật Thích Ca đã giác ngộ được nhị đế (Hai chân lý) như Thế Tục Đế và Chân Đế. Thế Tục Đế là sự thật của cuộc đời; Chân Đế là sự thật của chân tâm.
Ví dụ:
a) Thế Tục Đế (Sự Thật của Cuộc Đời): Đức Phật khi còn là Thái Tử; Ngài đã giác ngộ ra cuộc đời của nhân sinh là tạm bợ. Vì ai sinh ra rồi cũng bị khổ già, bệnh và chết. Đây là sự thật của cuộc đời nhân sinh.
b) Chân Đế (Chân Tâm): Đức Phật tu định, tu huệ, nên Ngài đã giác ngộ chân tâm vốn thanh tịnh. Đây là Chân Đế.
    2. Tìm hiểu luật nhân quả:
         Đức Phật dạy: “Bạn gieo nhân ác, thì bạn sẽ nhận quả ác; Bạn gieo nhân thiện, thì bạn sẽ nhận quả thiện. Đó là luật nhân quả”. Con người tạo ra nhiều nghiệp thiện ác khác nhau; Vì thế nên mới có sự khác biệt giữa người nầy với người khác”.
Ví dụ:
         Bạn giết người, thì cảnh sát sẽ bỏ bạn vào nhà tù. Dù bạn có tin đấng thiêng liêng nào tuyệt đối đi nữa; Họ cũng không cứu bạn ra nhà tù và họ cũng không ngồi tù thế cho bạn. Vì đó là luật nhân quả và như vậy mới công bằng. Đấng thiêng liêng đâu có làm tội, sao họ phải chịu và ngồi tù thế cho bạn được. Bạn gieo nhân ác thì bạn phải chịu quả ác.
    3. Tìm hiểu sự luân hồi sanh tử của chúng sinh:
         Đức Phật dạy rằng con người sau khi chết đi sẽ thay hình đổi dạng sang kiếp khác trong 6 cõi luân hồi. Đó là Trời, người, A Tu La, Địa Ngục, Ngạ Quỹ, Súc sanh. Tại sao? Bỡi vì, luân hồi là do bạn tạo nghiệp thiện ác. Bạn phải luân hồi để chịu quả thiện ác. Nghiệp thiện ác đều do tâm của bạn phát sinh ra.
    4. Báo ân cha mẹ:
         Cha mẹ là người có công sanh bạn ra, Họ là người có công nuôi bạn lớn lên, Họ là người có công giáo dục và cho bạn học hành lớn khôn. Họ là nguồn gốc lịch sử tạo ra bạn. Vậy, sao bạn không tìm hiểu tưởng niệm, tri ân và báo ân công sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, mà bạn muốn tưởng niệm ai và thờ ai? Người sanh bạn ra mà bạn không tìm hiểu và tôn thờ, mà Bạn đi tìm hiểu và tôn thờ người không sanh bạn ra. Bạn đi tìm hiểu người tạo ra con người để làm gì?
Đức Phật dạy: “Tâm hiếu là tâm Phật; Hạnh hiếu là hạnh Phật”. Do đó, bổn phận làm con phải ngoan và phải biết lo cha mẹ từ đời sống vật chất đến tinh thần. Đó là nền tảng đạo đức của con người.
    5. Không làm các điều ác để trao dồi đạo đức cá nhân:
Nếu bạn muốn trao dồi đạo đức của chính mình, thì bạn phải ngưng làm các điều ác. Làm như thế nào? Bạn phải giữ 5 giới cấm. 5 giới cấm gồm 1) Không sát sanh; 2) Không trộm cắp; 3) Không tà dâm; 4) Không nói dối; 5) Không uống rượu, sử dụng chất say.
         Đức Phật dạy nhân sinh tu giữ những giới nầy là tu đức.
    6. Làm các điều thiện để tạo thiện nghiệp:
    6.1. Thể hiện lòng từ bi với chúng sanh, bằng cách không ăn thịt chúng sanh và phải phóng sanh.
    6.2. Thể hiện lòng từ bi với người khác, bằng cách bố thí, lợi ích mọi người.
  Đức Phật dạy nhân sinh tu những điều thiện nầy để tu phước.
    7. Làm sao sống an lạc và giữ tâm thanh tịnh:
         Đức Phật dạy chúng ta sống an lạc và giữ tâm thanh tịnh. Nếu chúng ta suy nghĩ, lo lắng và buồn phiền nhiều thì làm sao chúng ta hạnh phúc được. Những sự phiền não, khổ đau đều do tham lam, sân hận, si mê mà phát sinh ra. Vì thế, chúng ta phải diệt hết chúng đi, thì chúng ta mới an được. Khi chúng ta được an thì tâm của chúng ta mới thanh tịnh. Thanh tịnh nghĩa là sao? Thanh tịnh nghĩa là tâm không phiền não, khổ đau và không tham, sân, si. Tu tập làm sao để đạt được sự an lạc và thanh tịnh.
         Ví dụ: Niệm Phật nhất tâm bất loạn hoặc tu thiền định. Khi bạn đạt định và sống trong định thì bạn an lạc và thanh tịnh.
    8. Thoát ly sanh tử luân hồi:
         Đức Phật dạy rằng cuộc đời nầy có hạnh phúc, có khổ đau. Nhưng hạnh phúc hay khổ đau đều là tạm bợ. Vì cuối cuộc đời là sự chết. Rồi, con người phải luân hồi mãi mãi. Nếu ai muốn thoát khổ luân hồi, thì Đức Phật sẽ hướng dẫn tu tập con đường xuất thế để ra khỏi luân hồi.
    9. Làm sao thành Thánh, thành Bồ Tát và thành Phật:
         Nếu bạn muốn thoát khổ luân hồi, thì bạn tu tập thành Thánh A La Hán, thành Bồ Tát và thành Phật.
1) Thánh A La Hán là bậc xuất thế, là người đã đạt đến quả Niết Bàn. Niết Bàn là quả không còn sanh tử luân hồi nữa. Các Ngài tu tập tam vô lậu học. Đó là tu giới, tu định và tu huệ.
2) Bồ Tát là cũng là bậc xuất thế, không còn luân hồi nữa. Nhưng Bồ Tát phát nguyện nhập thế cứu độ chúng sanh. Các Ngài tu phát Bồ Đề Tâm và lục độ ba la mật. Lục độ ba la mật gồm: 1) Bố thí; 2) Trì giới; 3) Nhẫn nhục; 4) Tinh tấn; 5) Thiền định; 6) Trí huệ.
3) Phật là người tự giác. giác tha và giác hạnh viên mãn.
Tóm lại
          Chúng ta không ai thoát được cái phiền não của tham, sân, si; Cái khổ của già, bệnh và chết; Cái khổ của luân hồi sanh tử. Như vậy, làm sao chúng ta sống hạnh phúc đây? Chúng ta muốn sống được an lạc, thì chúng ta phải tu tập diệt khổ. Khi khổ hoàn toàn chấm dứt, thì chúng ta đã đạt Niết Bàn, đời đời an vui.
          Đức Phật nói rằng: “Ta là Phật đã thành; Tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành. Bỡi vì, chúng sanh đều có Phật tánh. Do đó, nếu chúng sanh học và tu theo hạnh của Phật, thì chúng sanh sẽ thành Phật trong tương lai”. Đức Phật có thể hướng dẫn chúng sanh diệt khổ, thoát ly sanh tử luân hồi và tu hành làm sao thành vị A La Hán, thành Bồ Tát, thành Phật qua những phương pháp thiền định và thiền quán. Si mê là chúng sanh; Giác ngộ là Phật. Bạn muốn sao?
 Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

II - Giáo lý - Phật pháp

Bài pháp đầu tiên "Tứ Diệu Đế / Bốn Chân Lý Vi Diệu"
          Vào thế kỷ thứ 6 ngày 15 tháng 12 ÂL năm 594 trước tây lịch, đức Phật đã giác ngộ chân lý dưới cội Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng – làng Bodhgaya, thành phố Gaya, thủ đô Patna, tiểu bang Bihar. Kể từ đó, đạo Phật có mặt trên cõi đời này. Sau đó, Ngài đi bộ khoảng 250 km đến vườn Lộc Uyển (Vườn Nai) – làng Sarnath, thành phố Varanasi, tiểu bang Uttar Pradesh. Nơi đó, Ngài tìm gặp lại 5 anh em Kiều Trần Như và Ngài đã giảng bài pháp đầu tiên “Tứ Diệu Đế” cho 5 anh em Kiều Trần Như. Bài này nói về 2 chân lý. Chân lý thứ nhất là Thế Tục Đế, nghĩa là sự thật của cuộc đời, gồm có Khổ Đế và Tập Đế. Chân lý thứ hai là Chân Đế, nghĩa là sự thật của Chân Tâm, gồm có Diệt Đế và Đạo Đế.
 
Thế tục đế
Khổ đế (sự thật của khổ ở cuộc đời):
Khổ của thân:
          Khổ của thân gồm có sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ. Khi đức Phật là một vị thái tử Sĩ Đạt Ta, Ngài đi thăm viếng bốn cửa thành Ca Tỳ La Vệ và Ngài thấy cảnh khổ sanh, già, bệnh, chết của nhân sinh. Ngài liền hiểu được cuộc đời vô thường, cuộc đời giả tạm. Mặc dù, Ngài nhận thấy rằng cuộc đời có nhiều sự vui sướng, khoái lạc như tiền tài, sắc đẹp, danh thơm, địa vị, ăn ngon, ngủ ngon, .v.v. nhưng tiếc thay! cuối cùng của kiếp nhân sinh là vô thương, là sự chết, thì tất cả sự vui sướng của cuộc đời đều tan biến và sự khổ xuất hiện trước mặt.
Khổ của tâm:
  1. Cầu bất đắc khổ: cái khổ của mong muốn không được như ý
  2. Ái biệt ly khổ: cái khổ của sự chia ly với người thân. Ví dụ như người thân qua đời.
  3. Oán tắng hội khổ: cái khổ của sự gặp người thù hận.
  4. Ngủ ấm suy thạnh khổ: cái khổ của sự biến đổi của thân tâm.
         Người đời thường nói rằng lòng tham lam của con người không có đáy. Do vậy, con người ham muốn nhiều và tạo ra chiến tranh, xung đột trong thế giới, trong xã hội và ngày cả trong gia đình, v.v... Từ đó sanh ra cảnh chia ly chết vì chiến tranh, chết vì bệnh tật, chết vì tai nạn, chết vì tự tử, v.v...
 
Tập đế (nguyên nhân của sự khổ):
  1. Tư hoặc (Tư tưởng sai lầm): tham, sân, si, mạn, nghi.
  2. Kiến hoặc (Cái nhìn sai lầm): thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến.
Tất cả sự khổ đau của nhân loại là do nguồn tâm tham lam, sân hận, si mê phát sinh ra.
 
Chân đế
Diệt đế (Niết bàn):
           Diệt đế nói cho dễ hiểu là Niết Bàn. Niết Bàn nghĩa là chấm dứt sự khổ của sanh, già, bệnh, chết, sự khổ của tham, sân, si, và chấm dứt sự khổ của luân hồi sanh tử. Niết Bàn là sự tịch tịnh của chân tâm. Nếu hành giả muốn đạt được quả Niết Bàn, thì hành giả phải tu hành thành tựu 4 quả vị Thánh. Bốn quả vị thánh: 1. Tu Đà Hoàn, 2. Tư Đà Hàm, 3. A Na Hàm, 4. A La Hán.
 
Đạo đế (con đường đi đến Niết Bàn):
         Bạn muốn giàu, thì bạn phải siêng năng đi làm.
         Bạn muốn khỏe, thì bạn phải tập thể dục.
         bạn muốn thành bác sĩ, thì bạn phải học.
         Bạn muốn thành Thánh, thì bạn phải thanh tịnh tâm.
         Bạn muốn đạt được quả Niết Bàn thì bạn tu tập.
         Đạo Đế là con đường đi đến Niết Bàn. Lời dạy của đức Phật là những phương pháp tu hành như tu giới, tu định, tu huệ.
Tu giới: Tập tu giữ giới để ngưng các điều ác.
Tu định: Tập tu thiền chỉ để ngưng sự hổn loạn trong tâm
Tu huệ: Tập tu các phương pháp thiền quán để diệt trừ nguồn gốc vô minh như tham lam, sân hận, ngu si.
         Đây là những phương pháp căn bản sau đây:
 
37 phẩm trợ đạo:
         37 phẩm trợ đạo gồm có Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngủ Căn, Ngủ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo. Ba mươi bảy pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được đạo quả nên gọi là trợ Bồ đề.
 
Bốn pháp niệm xứ niệm
          Bốn pháp niệm xứ là tâm năng quán (tâm hay quán sát). Xứ là cảnh sở quán (Cảnh bị quán sát). Vì chúng sanh vọng chấp thân ngũ ấm này, nên Phật nói 4 phép quán để đối trị:
1. Quán thân bất tịnh: quán sát thân này do tứ đại “Đất, Nước, gió, lửa” tạo thành, và bên trong thân bất tịnh và tiết ra những chất bất tịnh trên thân)  
2. Quán thọ là khổ: quán sát sự cảm giác vui, buồn và không vui, không đều là vô thường, giả tạm. Những vọng niệm này đưa đến khổ của thân tâm)
3. Quán tâm vô thường: quán sát các sự suy nghĩ, vọng niệm khởi lên liên tục trong tâm đều vô thường, đều không thật tướng.
4. Quán pháp vô ngã: quán sát các pháp đều do nhân duyên hợp lại và sanh ra, rồi các pháp cũng do nhân duyên diệt mất. Cho nên, các pháp không có chủ tể.
 
Bốn pháp chánh cần
1. Đoạn những ác pháp đã sanh.
2. Đoạn những ác pháp chưa sanh.
3. Làm cho pháp lành tăng trưởng.
4. Làm cho pháp lành chưa sanh được sanh.
 
Bốn pháp như ý túc
1. Dục như ý túc: có tâm ham muốn tu tập các pháp lành thì được như ý.
2. Niệm như ý túc: nhớ nghĩ các pháp lành được như ý.
3. Tinh tấn như ý túc: tinh tấn tu tập các pháp lành được như ý.
4. Tư duy như ý túc: suy nghĩ mà tu tập được như ý.
 
Năm căn
1. Tín căn: tin theo chánh đạo và trợ đạo.
2. Tinh tấn căn: là sự dõng mãnh tu theo thiện pháp.
3. Niệm căn: ghi nhớ các pháp chánh đạo và trợ đạo.
4. Định căn: nhiếp tâm theo chánh đạo và trợ đạo.
5. Tuệ căn: nhờ có định và chân tánh tự sáng suốt không phải ở ngoài vào.  
 
Năm lực
1. Tín lực
2. Tính tấn lực
3. Niệm lực
4. Định lực
5. Tuệ lực
Năm lực là sự gia công tu tập và tăng trưởng năm căn. Khi thiện căn thành thục, các ác pháp không còn thì gọi là Ngũ lực.
 
Bảy Pháp giác chi
          Giác là tỏ, nghĩa là tỏ biết pháp tu chơn hay ngụy, chi là ngành, nghĩa là bảy pháp này có chi phái khác nhau, không xen lẫn nhau nên gọi là 7 pháp giác chi hay là bảy pháp giác phần.
1. Trạch pháp giác chi: chọn pháp môn tu tập.
2. Tinh tấn giác chi: Tinh tấn tu tập.
3. Hỷ giác chi: hoan hỷ.
4. Khinh an giác chi: tu tập được nhẹ nhàn thân tâm.
5. Xả giác chi: xã bỏ những vướng bận đối với sự tu tập.
6. Niệm giác chi: luôn nhớ niệm sự tu tập.
7. Định giác chi: thành tựu sự định lực chân chánh.
 
Tám pháp đạo phần
1. Chánh kiến: sự hiểu biết rõ đúng sai, chánh tà.
2. Chánh tư duy: sự suy nghĩ chơn chánh hợp nhân quả và chân lý.
3. Chánh ngữ: nói những lời chơn chánh, không hư vọng.
4. Chánh nghiệp: hành động chân chánh.
5. Chánh mạng: làm nghề nghiệp thiện, lấy sự khất thực để nuôi sống thân mạng.
6. Chánh tinh tấn: tu theo giới, định, tuệ một lòng tinh chuyên, không gián đoạn.
7. Chánh niệm: ghi nhớ những pháp chơn chánh.
8. Chánh định: thu nhiếp thân tâm thường được tịch tịnh.
 
LUẬT NHÂN QUẢ - CAUSE AND EFFECT LAW
         Đạo Phật dạy hiểu và tin luật nhân quả.
         Nếu bạn làm ác, thì bạn sẽ chịu quả ác.
         Nếu bạn làm thiện, thì bạn sẽ được quả thiện.
         Nếu bạn thanh tịnh được thân tâm, thì bạn thành bậc Thánh.
 
LUÂN HỒI - SAMSARA – REINCARNATION – REBIRTH
          Con người chết rồi, họ sẽ tiếp tục luân hồi trong tam giới – The three realms: Dục giới – the desire realm, sắc giới – the form realm, vô sắc giới – the Formless realm. Dục giới là cảnh giới có người nam và người nữ. Vì họ có nhu cầu ham muốn tình cảm nam nữ. Cõi dục giới gồm có 6 cõi như:
Lục đạo luân hổi– the six realms in Samsara:
1. Trời - God, 2. A Tu La – halv God, 3. Người – Human Being, 4. Địa Ngục – Hell Being, 5. Ngạ Quỹ - Hungry Ghost, 6. Súc Sanh - Animal.
Cõi Trời ở cõi dục giới có 6 cõi – The Heaven in the desire realm consists of 6 Heavens:
1. Trời Tứ Thiên Vương, 2. Trời Đao Lợi, 3. Trời Dạ Ma, 4. Trời Đẩu Xuất, 5. Trời Hóa Lạc, 6. Trời Tha Hóa Tự Tại.
Cõi trời ở Sắc giới – The form realm:
         Người ở cõi sắc giới, họ có thân, mà không có người nữ. Vì họ không có sanh con. Họ chỉ tu tập thiền định và đạt được pháp lạc. Cõi trời sắc giới gồm có 1. Sơ thiền, 2. Nhị thiền, 3. Tam thiền, 4. Tứ thiền.
 
Cõi trời ở Vô sắc giới – The formless realm:
         Người ở cõi Vô Sắc giới, họ không có thân, chỉ có tâm thức. Vì họ tu tập thiền định, thiền quán và an trú trong tâm. Cõi trời Vô Sắc giới gồm có 1. Không vô biên xứ, 2. Thức vô biên xứ, 3. Vô sở hửu xứ, 4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
 
THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN
THE TWELVE LINKS OF DEPENDENT ORIGINATION
12 nhân duyên liên quan 3 đời nhân quả
         12 nhân duyên là nói về sự kế nối và tiến trình luân hồi ba đời từ đời quá khứ, hiện tại và vị lại của nhân sinh. Trong quá khứ, con người do vô minh tạo ra nghiệp nhân thiện ác. Do nghiệp nhân thiện ác đưa đến luân hồi tới kiếp hiện tại. Và hiện tại con người thọ nhận nghiệp quả thiện ác của quá khứ và tiếp tục tạo nghiệp nhân thiện ác cho tương lai. Do vậy, con người phải tiếp tục luân hồi sang kiếp sau.
+  The past Cause - Nhân quá khứ
  1. Ignorance - Vô minh (Thiếu hiểu biết): Hoặc (Sự sai lầm)
  2. Mental Formations - Hành (Những hành động của tâm thức): Nghiệp là nhân
+ The Present Effect - Quả hiện tại: khổ là quả
  1. Consciousness - Thức (Cái biết)
  2. Name and Form - Danh sắc (Thân và tâm)
  3. The six Senses - Lục nhập –Sáu căn (Sáu giác quan). 18 giới: 6 căn (Mắt - Eye, Tai - Ear, Mũi - Nose, Lưỡi - Tongue, Thân - Skin, Ý - Mind) duyên với6 trần (Sắc - Form, Thinh - Sound, Hương - Smell, Vị - Taste, Xúc - Touch, Pháp - Idea) sanh ra 6 thức (Nhãn thức, Nhĩ thức, Thiệt thức, Tỷ thức, Thân thức, Ý thức)
  4. Contact - Xúc (Sự va chạm)
  5. Feeling (Sensation) - Thọ (Sự cảm thọ khổ, lạc)
+ The present Cause - Nhân hiện tại
  1. Craving - Ái (Sự ham muốn, dục vọng): Hoặc (Sự sai lầm)
  2. Clinging - Thủ (Sự dính mắc, chấp giữ): Nghiệp là nhân
  3. Becoming - Hửu (Sự trở thành) : Nghiệp là nhân
+ The future Effect - Quả tương lai – Khổ
  1. Birth - Sanh (Sinh ra thân): khổ là quả
  2. Aging and Death - Lão tử (Sự già và sự chết): khổ là quả
 
CON NGƯỜI TỪ ĐÂU CÓ?
AI TẠO RA THẾ GIỚI NÀY?
Hỏi:
          Mô Phật! Bạch Thầy! Có người hỏi ai sanh ra con người và ai tạo ra thế giới này? Theo đạo Phật giải thích thế nào?
Trả lời:
Mô Phật! Kính thưa quý vị!
Câu hỏi: “Ai sanh ra con người và con người từ đâu mà có?” đây là thắc mắc của người xưa đến nay.
          Trong truyền thuyết Việt Nam, có kể rằng do bà Âu Cơ và ông Lạc Long Quân lấy nhau sanh ra 100 trứng và nở ra 100 con. Người cha dẫn 50 đứa con lên núi và người mẹ dẫn 50 đứa con xuống biển. Kể từ đó có loài người.
          Nhà khoa học cho rằng con người bắt nguồn từ loài vượn và phát triển văn minh dần dần thành loài người.
          Các tôn giáo nói rằng con người do cha mẹ sanh ra, cha mẹ là do ông bà sanh ra; ông bà là do ông tổ sanh ra; ông tổ là do đấng tạo hóa sanh ra. Đấng tạo hóa của mỗi tôn giáo có tên gọi khác nhau.
          Như vậy là các tôn giáo nầy đều có thờ chung đấng tạo hóa. Họ cho rằng đấng tạo hóa có quyền năng tối thượng. Ngài đã tạo ra thế giới nầy, con người và mọi thứ trên đời. Đặc biệt, nếu ai tin Ngài, thì khi họ chết sẽ được đấng tạo hóa rướt về thiêng đàng.
          Những nhà nghiên cứu tây phương đặt ra câu hỏi rằng: “Đấng tạo hóa từ đâu mà có? Ai sanh ra Ngài? và làm sao có quyền năng tối thượng để tạo ra được con người và thế giới?
          Tôn giáo nói rằng: “Đấng tạo hóa tự nhiên sinh ra và quyền năng cũng tự nhiên có. Nhà nghiên cứu hỏi rằng: “Làm sao bạn biết điều đó? Bạn có thấy không? Ai thấy được đấng tạo hóa tự nhiên sinh ra? Nếu họ thấy được, thì chắc chắn họ phải có trước đấng tạo hóa. Chắc chắn là không ai biết và không ai thấy điều đó. Nhà nghiên cứu cho rằng điều nầy là giả thuyết ảo tưởng thôi, vì không có nguồn gốc lịch sử thiết thực.
          Nhà nghiên cứu hỏi rằng: “Đấng tạo hóa có quyền năng tạo ra cõi thế gian nầy. Vậy, mọi người xin Ngài chuyển hóa cõi thế gian nầy thành thiêng đàng được không?” Chắc chắn là không.
          Nhà nghiên cứu hỏi rằng: “Đấng tạo hóa tạo ra các cảnh vật trần gian. Vậy, thiên tai, bảo lụt, sóng thần và động đất, .v.v. những hiện tượng nầy do ai tạo ra? Chắc chắn là cũng do Đấng tạo hóa tạo ra. Ngài tạo ra để làm gì? Sao Ngài không dùng quyền năng ngăn chặn thiên tai nói trên?
          Nhà nghiên cứu hỏi rằng: “Đấng tạo hóa có quyền năng tạo ra con người, thì tất cả kẻ ác tạo ra chiến tranh giết người trên trần gian nầy. Họ cũng là do Đấng tạo hóa tạo ra. Vậy, Ngài có thể chuyển hóa họ thành người tốt được không? Sao Ngài không dùng quyền năng để hồ biến tất cả kẻ ác thành thiện nhân?
Con người sanh ra rồi cuối cùng ai cũng chết. Vậy là con người giả tạm, chứ không có thật. Nếu thật thì không chết. Vậy, Đấng tạo hóa tạo ra con người giả tạm mục đích để làm gì?
          Các nhà nghiên cứu tôn giáo học tây phương đã nghiên cứu cho rằng tôn giáo giới thiệu về đấng tạo hóa chỉ là giả thiết mơ hồ. Bỡi vì, họ không chứng minh căn cứ nguồn gốc lịch sử của đấng tạo hóa. Giả thiết nầy đặt ra để đáp lại sự thỏa mãn tò mò thắc mắc của nhân gian. Chứ thật ra đấng tạo hóa là không có thật. Tại sao họ nói như vậy? Bỡi vì, họ đặt ra câu hỏi?
* Nếu bạn tin một người, mà người nầy không có lịch sử, thì người nầy có thật không? Chắc chắn là không có thật. Vì không có lịch sử, thì không ai thấy và không ai biết người đó sống nước nào, họ tốt hay xấu, đạo đức như thế nào. Vậy, người không có nguồn gốc lịch sử là người trong giấc mơ và ảo tưởng.
          Do đó, họ nghiên cứu đấng tạo hóa không có nguồn gốc lịch sử. Những gì, tôn giáo giải thích đều là giả thiết, suy luận theo quan niệm nhân gian. Tại sao? Nhà nghiên cứu nói rằng:
          Thứ nhất Đấng tạo hóa không có bằng chứng cụ thể qua lịch sử.
          Thứ hai, đấng tạo hóa không có lịch sử là không có thân, thì Ngài cũng không phải là người sáng lập tôn giáo được.
          Thứ ba, Ngài không có thân thì làm sao dạy giáo lý và hướng dẫn người khác tu hành được. Ngài không thể dạy giáo lý và hướng dẫn người khác tu hành qua cảm giác và giấc mơ được. Giả thiết nầy đều là ảo tưởng. Do đó, họ nói rằng đấng tạo hóa không có giáo lý.
Thứ tư, đấng tạo hóa không có lịch sử, không có thân, thì không ai thấy biết Ngài tốt hay xấu, thiện hay ác, phàm phu hay thánh nhân và nhân tu hành đạo đức của Ngài như thế nào. Các nhà tôn giáo tây phương cho rằng đấng tạo hóa không có căn cứ nguồn gốc lịch sử.
          Tóm lại: Truyền thuyết đấng tạo hóa là suy luận không căn cứ lịch sử, là giả thuyết ảo tưởng, mơ hồ, không có thật. (Bạn có thể tự nghiên cứu lịch sử nói trên).
Hỏi:
          Đạo Phật cũng là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới nói chung. Vậy, đạo Phật giải thích như thế nào? Ai sanh ra con người và con người từ đâu mà có?
Trả lời:
          Đức Phật ra đời không phải để giải thích cái sự tò mò thắc mắc của nhân gian. Ngài mục đích muốn hướng dẫn chúng sanh tu hành đạo đức để diệt khổ trong hiện tại và cái khổ luân hồi trong tương lai. Khi cái khổ vắng mặt, thì an lạc xuất hiện.
          Tuy nhiên, tôi xin chia sẽ câu hỏi nầy theo nhân sinh quan và vũ trụ quan Phật giáo.
          Trong lịch sử Phật giáo có kể, ngài Xá Lợi Phất - Sariputta đi tìm thầy học đạo. Một hôm, Ngài gặp một vị Sư tên là Assaji đang đi khất thực ngoài đường.
* Ngài hỏi: “Sư là đệ tử của ai?
* Sư đáp: “Tôi là đệ tử của Đức Thế Tôn Thích Ca”.
* Ngài hỏi: “Vậy, Sư Phụ dạy Sư điều gì?”.
* Sư đáp: Thế Tôn dạy:
“Các pháp do nhân duyên sanh,
Các pháp do nhân duyên diệt”.
          Ngài nghe xong, bừng ngộ và đến gặp Đức Phật cầu đạo.
Hỏi:
          Pháp nghĩa là gì?
Trả lời:
          Pháp là chỉ những gì cụ thể vật chất. Ví dụ như thân người, con vật, cái nhà, cây xoài, xe hơi, trái đất .v.v. đều gọi là pháp.
Hỏi:
          Ai sanh ra con người?
Trả lời:
          Con người do nhân duyên sinh ra.
          Con người cũng do nhân duyên diệt.
          Con người là do NHÂN tinh cha, NHÂN huyết mẹ và NHÂN người đi đầu thai duyên nhau thụ thai sinh ra em bé; Em bé là QUẢ. Qua ba yết tố NHÂN em bé, NHÂN cha và NHÂN mẹ duyên với nhau sinh ra con người.
          Thân người do tứ đại (Đất, nước, gió, lửa) duyên nhau tạo thành, nhưng rồi qua nhân duyên thời gian già, bệnh và chết (Diệt vong). Đây là chu kỳ của kiếp nhân sinh. Vậy, thân người do nhân duyên tứ đại (Đất, nước, gió, lửa) tạo thành, rồi thân tứ đại cũng do nhân duyên diệt vong. Do đó, chúng ta mới nói thân người giả tạm.
          Các loài động vật như con chó, con mèo, con bò, con heo, con gà, .v.v. cũng theo quy trình như con người nói trên.
          Các loài thực vật cũng vậy như Trái xoài. Trái xoài là quả. Quả này bắt nguồn từ cây xoài. Cây xoài là từ hột xoài. Vậy hột xoài là nhân; Quả xoài là quả. NHÂN hột xoài duyên với NHÂN đất, NHÂN nước, NHÂN gió (Không khí), NHÂN hỏa (nhiệt độ) sanh ra quả xoài. Nếu hột xoài không có điều kiện duyên đất, nước, gió và lửa, thì hột xoài không có đủ nhân duyên sinh ra quả xoài.
          Cây xoài cũng theo nhân duyên thời gian rồi hoại diệt. Đây là quy trình của vũ trụ nhân sinh “Thành, trụ, hoại, không; Sinh, trụ, dị, diệt”.
          Đức Phật sống trong đại định, cho nên Ngài có lục thông như thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mệnh thông thông, thần túc thông, lậu tận thông. Vì lý do đó, Ngài thấy được chúng sanh các cõi trong vũ trụ nhiều như số cát sông hằng. Tựu chung, Ngài chia làm 3 loại: Dục giới, sắc giới và vô sắc giới.
* Dục giới: là nơi có nam nữ, vì chúng sanh cõi nầy có sự ham muốn về tình ái nam nữ. Cõi dục giới gồm 1) Trời, 2) Cõi người, 3) Cõi A Tu La, 4) Cõi địa ngục, 5) Cõi ngạ quỹ, 6) Cõi súc sanh. Cõi trời dục giới gồm có 6 cõi trời dục giới như 1) Trời Tứ Thiên Vương, 2) Trời Đao Lợi, 3) Trời Dạ Ma, 4) Trời Đâu Suất, 5) Trời Hóa Lạc, 6) Trời Tha Hóa Tự Tại.
* Sắc giới: là nơi chúng sanh có hình sắc thân thể, nhưng không có nam, nữ, vì họ thụ hưởng an lạc qua sự tu thiền định như sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
* Vô sắc giới: là nơi chúng sanh không có hình sắc thân thể, chỉ có tâm thức, vì họ xã thân, chỉ còn có tâm thức mà thôi. Họ thụ hưởng an lạc qua sự tu thiền định như không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hửu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Chúng sanh các cõi đều luân hồi qua 4 cách như: Thai sanh (Sanh bằng bào thai), noãn sanh (Sanh qua trứng), thấp sanh (Sanh qua điều kiện ẩm ước) và hóa sanh (Biến hóa sanh thân khác).
* Thai sanh: Con người, con heo, con bò, con chó, .v.v. sanh qua bào thai.
* Noãn sanh: con gà, con vịt, con chim, con rắn .v.v. được sanh ra hình thức trứng.
* Thấp sanh: các loài côn trùng, con ruồi, con thiêu thân .v.v. được sanh ra điều kiện ẩm ước. Con người khi thụ tinh nhân tạo cũng qua điện kiện thấp sanh nầy.
* Hóa sanh: Chư thiên (Người trời) hóa sanh. Con lăn quăn hóa sanh con muỗi; Con ong hóa sanh con bướn.
          Đây là nhân sinh quan Phật giáo.
Hỏi:
          Vậy, trái đất này do ai tạo ra?
Trả lời:
          Trái đất nầy cũng thuộc về pháp. Do đó, trái đất nầy cũng do nhân duyên sanh. Trái đất nầy do bốn thứ nhân tứ đại như đất, nước, gió, lửa duyên nhau tạo thành. Rồi bốn nhân nầy theo nhân duyên thời gian thành, trụ, hoại, không; Sinh, trụ, dị, diệt mà tan vở.
          Đức Phật dạy trong vủ trụ có nhiều thế giới như là cát sông Hằng. Các thế giới đều phải theo quy luật vô thường sinh diệt.
          Các nhà khoa học vũ trụ Nasa tại Houston, tiểu bang Texas, ở Mỹ, họ đã dùng vệ tinh và chứng minh rằng có vô số hành tinh trong vũ trụ và họ đã phỏng đoán ở các thế giới khác có sự sống như con người hoặc họ sống ở hình thức khác thân người như chúng ta. Đặc biệt, họ đã chứng minh rằng hiện nay đang có những thế giới đang hình thành. Sự hình thành nầy qua sự trên lệch âm dương và tạo ra lực xoáy ly tâm. Tất cả các thiên thạch và bụi trong không gian bị quy tụ lại lâu dài và cuối cùng hình thành một thế giới. Bên cạnh đó, họ chứng minh rằng một số sao lùn hay nói cách khác hành tinh đã bị nổ tung và hủy diệt. Khi nổ tung ra, thì các thiên thạch bay ra khắp nơi trong vũ trụ và có nhiều thiên thạch đã rơi vào trên trái đất chúng ta.
          Qua đó, những nhà khoa học vũ trụ đã chứng minh sự hình thành thế giới qua những điều kiện nhân duyên nói trên. Các thế giới cũng từ đó theo thời gian tiêu diệt. Vậy, khoa học vủ trụ đã chứng minh sự hình thành thế giới hợp với nhân sinh quan và vủ trụ quan của đạo Phật.
 
Xin chân thành cám ơn câu hỏi của bạn!
 
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Phật!
Viết xong ngày 24/08/2019
Tại Chùa Đôn Hậu – Trondheim
 
 
Phật pháp vấn đáp

Câu Hỏi Phật Phật
1. Đức Phật là ai?
* Phật là người giác ngộ; si mê là chúng sanh. Hễ ai giác ngộ đều là Phật.
          Đức Phật là 1) Người giác ngộ viên mãn, 2) là người giải thoát sanh tử luân hồi, 3) là người thanh tịnh, 4) là người từ bi và 5) là người trí huệ.
1.1. Đức Phật là bậc giác ngộ (hiểu biết):
Ngài đã giác ngộ được Tục Đế ( sự thật của cuộc đời) và chân đế (sự thật của chân tâm, Phật tánh)
Thế Tục Đế (sự thật của cuộc đời):
          Đức Phật dạy rằng cuộc đời là khổ. Con người có 2 cái khổ, là cái khổ về thân và cái khổ về tâm.
a) Cái khổ về tâm: cầu không được như ý là khổ; sự chia ly vĩnh biệt với người thân là khổ; Ở gần với người thù hận là khổ.
b) Cái khổ về thân: cái khổ của sanh ra; cái khổ của sự già; cái khổ của bệnh và cái khổ của sự chết.
Sự thật của chân tâm: là sự vắng lặng, thanh tịnh hay còn gọi là Niết Bàn.
          Đức Phật dạy luật nhân quả và luật vô thường. Đây là nguyên lý chung của vũ trụ nhân sinh. Nguyên lý nầy là sự thật của cuộc đời.
1.2. - Đức Phật là bậc giải thoát sanh tử luân hồi:
          Đức Phật là bậc xuất thế, thoát ly sanh tử luân hồi, vì Ngài  tu giới, tu định, tu huệ và đạt được Niết Bàn.
1.3. Đức Phật là bậc thanh tịnh:
          Ngài tu tập và chứng các bậc thiền định, cùng thành tựu 6 loại thần thông như 1) thiên nhãn thông (mắt thấy thông suốt), 2) thiên nhĩ thông (tai nghe thông suốt), 3) thần túc thông (thân biến hiện tùy ý),  4) túc mạng thông (biết thông suốt chuyện quá khứ), 5) Tha tâm thông (Thông suốt tâm ý người khác), 6) Lậu tận thông ( trí huệ thông suốt diệt sạch vô minh). Ngài luôn sống trong an định, nên thân tâm của Ngài luôn luôn thanh tịnh.
1.4. Đức Phật là bậc đại trí tuệ:
           Ngài chỉ dạy chúng sanh rất nhiều phương pháp tu tập để diệt trừ phiền não, khổ đau và chuyển người phàm phu thành Thánh nhân.
1.5. Đức Phật là bậc đại từ đại bi:
           Ngài nguyện cứu độ tất cả chúng sanh. Ngài không trừng phạt ai, không đưa ai xuống địa ngục. Ngược lại, Ngài nguyện xuống địa ngục cứu độ chúng sanh. 
2. Tại sao phải tin đức Phật?
Hỏi:
          Tại sao bạn phải tin Đức Phật?
Trả lời:
          Bạn có thể tin Đức Phật qua 3 yếu tố sau đây:
          1) Bạn có thể tin Đức Phật qua lịch sử; 2) Bạn có thể tin Đức Phật qua nguồn gốc nhân tu hành thành Phật; 3) Bạn có thể tin Đức Phật qua khả năng của Ngài hướng dẫn chúng sanh tu thành Phật.
2.1. Bạn có thể tin Đức Phật qua lịch sử:
          Có người hỏi rằng nếu bạn tin một người mà người đó không có thật lịch sử, thì người đó có thật không? Chắc chắn là bạn trả lời không. Vì người không có nguồn gốc lịch sử là không ai biết họ sanh ra ở đâu? sống ở đâu? cha mẹ là ai? và tu học như thế nào?
Nếu họ không có cha mẹ, thì họ cũng không có thân người. Họ không có thân người, thì làm sao có căn cứ để mọi người nhận biết họ tốt hay xấu? tu hành ra sao? và họ là Thánh hay phàm phu?
Nếu họ không có thân người thì làm sao họ dạy giáo lý cho bạn được. Nếu họ không có thân, thì họ có thể dạy giáo lý cho bạn qua cảm giác hay giấc mơ được không? Chắc chắn là không. Vậy, họ cũng không có giáo lý luôn. Do đó, nếu họ không có thật lịch sử, thì họ là người trong giấc mơ hay trong ảo tưởng của bạn.v.v.
Bạn tin Đức Phật. Bỡi vì, Đức Phật có nguồn gốc lịch sử thật, là một người thật.
2.2. Bạn có thể tin Đức Phật qua nguồn gốc nhân tu hành thành Phật:
Có người hỏi bạn: “Có ai không học, không tu mà họ trở thành bác sĩ, nha sĩ, tiến sĩ và thạc sĩ không, .v.v.?“ Chắc chắn bạn trã lời không liền. Có người hỏi bạn: “Có ai không học, không tu mà họ trở thành Thánh nhân hay bậc tối thượng và một bậc đầy quyền năng không?” Chắn chắn bạn trã lời không liền. bỡi vì, không có vị Thánh nào không học không tu mà họ thành Thánh được cả. Do đó, nếu có người tự xưng là Thánh nhân hay đấng tối thượng, thì bạn phải tìm hiểu họ tu nhân gì để trở thành bậc Thánh nhân, tu hành phương pháp như thế nào? Bạn phải hỏi họ tu học pháp môn gì mà họ trở thành vị Thánh nhân hay là bậc tối thượng? Nếu họ không có nhân tu hành gì cả, thì làm sao họ thành Thánh nhân và đấng tối thượng? Vậy, quả Thánh nhân là Thánh giả. Thánh nầy do người ta tưởng tượng và thần thánh hóa họ lên; Chứ họ thật sự không có nguồn gốc nhân tu hành gì cả.
Bạn tin Đức Phật. Bỡi vì, Đức Phật là người giác ngộ sự thật của cuộc đời và sự thật của chân tâm. Sự thật đó chính là chân lý. Thứ hai Đức Phật có nhân tu hành để thành một vị Phật. Nhân tu hành đó là tu giới, tu định và tu huệ. Nhờ nhân nầy mới đưa đến quả vị Phật. Tất cả mọi người có thể tu nhân nầy để thành vị Phật. Đây là lý do bạn có thể tin Đức Phật.
2.3. Bạn có thể tin Đức Phật qua khả năng của Ngài hướng dẫn chúng sanh tu thành Phật:
Nếu có người tự xưng là Thánh nhân hay bậc tối thượng, thì bạn phải hỏi họ có thể dạy bạn về giáo lý và những phương pháp tu hành để thành Thánh hay bậc tối thượng không, .v.v.? Nếu họ không có khả năng như vậy. Bạn có thể nhận biết rằng đây là Thánh giả, chỉ có cái tên mà không có thật năng. Vì họ không có khả năng dạy bạn tu hành thành Thánh gì cả. Hay nói cách khác là họ không phải Thánh nhân.
Bạn tin Đức Phật. Bỡi vì, Đức Phật có khả năng dạy bạn những phương pháp tu thiền định, thiền quán để trở thành bậc Thánh A La Hán, bậc Bồ Tát và thành vị Phật qua Tam Tạng Kinh Điển (Kinh, Luật và Luận).
+ Kết luận:
          Nếu bạn tin một vị Thánh nhân hay bậc tối thượng mà họ thứ nhất không có lịch sử, thứ hai không có nhân tu hành, thứ ba không có khả năng dạy bạn tu hành thành Thánh hay bậc tối thượng; Vậy là bạn tin một người không có thật; Bạn tin mù quán, mê tín và thiếu hiểu biết rồi. Đây không phải là niềm tin chánh tín. Hay nói cách khác là bạn đã tự lường gạt niềm tin chính mình.
          Đức Phật có đủ những yếu tố nói trên. Đó là lý do tại sao bạn tin Đức Phật.
3. Thế nào đạo Phật?
          Đạo Phật dạy chúng ta tu thành Phật. Bởi vì, đức Phật dạy rằng tất cả chúng ta đều có Phật tánh. Do đó, đức Phật nói rằng: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Nếu tất cả chúng sanh đều học và tu hành theo lời dạy của đức Phật”.
  • Phật tánh nghĩa là gì?
  • Phật nghĩa là sự giác ngộ, sự hiểu biết. Người giác ngộ là Phật; Người Si mê là chúng sanh.
          Nếu chúng sanh là cục đá, cục sắt hay khúc cây, thì Đức Phật không thể giáo hóa chúng sanh được. Nhưng vì, Đức Phật biết được tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tánh giác ngộ, tánh hiểu  biết, nên Ngài muốn chỉ dạy chúng sanh tiến tu trên đường bỏ ác làm lành, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm phu thành Thánh, thành Bồ Tát và thành Phật.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! 
Đức Phật dạy tu tập như thế nào?
Đức Phật dạy 3 điều:
1. Không làm các điều ác.
2. Làm các điều thiện.
3. Thanh tịnh tâm và giữ tâm thanh tịnh. 
4.1. Không làm các điều ác: tu tập giữ 5 giới cấm.
  1. Không sát sanh; 2) Không trộm cắp; 3) Không tà dâm; 4) Không nói dối; 5) Không uống rượu, sử dụng thuốc phiện, ma túy.
          Đức Phật dạy chúng sanh tu giữ những giới nầy là tu đức. 
4.2. Làm các điều thiện:
1) Thể hiện lòng từ bi với chúng sanh, bằng cách không ăn thịt chúng sanh và phóng sanh.
2) Thể hiện lòng từ bi với người khác, bằng cách bố thí, giúp đỡ mọi người.
3) Thể hiện tình thương với gia đình, bằng sự chung thủy.
4) Thể hiện sự uy tín, bằng lời nói chân thật.
5) Ăn, uống thanh tịnh và tỉnh thức.
  Đức Phật dạy chúng sanh tu những điều thiện nầy để tu phước. 
4.3. Thanh tịnh tâm và giữ tâm thanh tịnh:
          Điều thứ ba là đức Phật dạy chúng ta tu tâm. Thân và khẩu của chúng ta làm thiện, ác đều do tâm. Do đó, Chúng ta phải tu tâm. Tâm thanh tịnh giúp cho chúng ta hết phiền não, khổ đau và diệt được tham lam, sân hận, si mê, .v.v. Chúng ta hết phiền não si mê; Đó nghĩa là Đức Phật đã dạy cho chúng ta sống hạnh phúc.
          Tâm thanh tịnh là tâm của bậc A La Hán, bậc Bồ Tát và Đức Phật. Vậy, Đức Phật dạy chúng ta thanh tịnh tâm để chúng ta chuyển tâm phàm phu thành tâm Phật.
          Ví dụ: Tụng Kinh, niệm Phật, ngồi thiền là những phương pháp giúp mọi người thanh tịnh tâm.
5. Phật tử có thờ hình tượng đức Phật không?
          Phật tử có thờ hình tượng của đức Phật. Thờ tượng của đức Phật là để tưởng nhớ và tôn kính Ngài; đặc biệt là học tập theo hạnh tu của Ngài. Hình tượng của đức Phật được làm bằng giấy, bằng xi măng, bằng gỗ, bằng đồng, .v.v. 
6. Tại sao có nhiều chư Phật và chư Bồ Tát trong đạo Phật?
          Tại sao có nhiều người bác sĩ? Bởi vì có nhiều người học bác sĩ, nên có nhiều người thành bác sĩ.
          Đức Phật dạy cho mọi người tu thành Thánh, thành Bồ Tát và thành Phật qua phương pháp tu giới, tu định và tu huệ. Vì thế, trong đạo Phật có nhiều chư Phật, chư Bồ Tát và chư Hiền Thánh Tăng. 
7. Phật tử cúng đức Phật cái gì?
          Phật tử thường mang bông, trái cây, nước, nhang, đèn để dâng cúng đức Phật. Mục đích là cầu phước và trang trí bàn thờ đức Phật.
 
8. Phật tử có cúng dường Tam Bảo không?
          Phật tử có cúng dường Tam Bảo là để xây dựng và duy trì Chùa. Đồng thời, Phật tử cũng ủng hộ đời sống tu học của Tăng đoàn. 
9. Ý nghĩa lạy Phật?
          Lạy Đức Phật là bày tỏ lòng tôn kính đức Phật và tri ân lời dạy của Ngài. 
10. Ý nghĩa sám hối?
          Sám hối nghĩa là gì? Sám nghĩa là ăn năn những lỗi lầm đã làm; hối nghĩa là hối cãi sẽ không làm nữa. Nay chúng ta phát tâm sám hối những lỗi lầm đã gây ra trong kiếp nầy và nhiều kiếp về trước. Người biết sám hối là người biết tu sửa. Nhờ phát tâm sám hối, mà tâm ý được nhẹ nhàng, thanh tịnh.
Ví dụ:
          Chúng ta đã lỡ suy nghĩ cái gì sai, chúng ta đã lỡ làm cái gì sai; chúng ta đã lỡ nói cái gì sai. Nay, chúng ta xin sám hối lỗi lầm và chúng ta nguyện không dám làm nữa. Nhưng nếu chúng ta có làm nghiệp ác, thì chúng ta vẫn phải chịu nhân quả. 
11. Ý nghĩa phát tâm Bồ Đề - phát tâm đại bi?
       Bồ đề là giác ngộ. Phát tâm bồ đề là phát tâm cầu thành Phật độ hết chúng sanh trong mười phương pháp giới. Chư Phật, chư Bồ Tát nào trong quá khứ cũng đều phát đại bi tâm, nguyện thành Phật độ cho hết thảy chúng sanh muôn loài trong mười phương pháp giới. Vì tâm từ bi của đức Phật bao la, nên bao trùm cả khắp pháp giới chúng sanh. Do đó mới nói rằng Phật đạo là đạo từ bi.
       Tất cả mọi người đều có tâm từ bi, nhưng vì chúng ta không biết khai triển và mở rộng nó ra. Nó không đâu xa; nó đang ngự trong ta. Chúng ta mở tâm từ bi của mình ra không có tội, không có giảm thọ, không có khổ và không có tốn tiền gì cả. Vậy tại sao chúng ta không chịu mở tâm từ bi của chúng ta ra? Vậy, chúng ta còn chờ gì nữa? Tâm từ bi nầy mới chính là tâm thật của chúng ta. Nay, chúng ta hãy mở rộng tâm từ bi của chúng ta qua sự phát tâm nói trên. Được như vậy, Phật chính là chúng ta, chúng ta chính là Phật!
Nguyện thế nào:
  • Con nguyện thành Phật độ tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới. 
12. Ý nghĩa ăn chay?
          Ăn chay là tránh việc sát sanh, hại vật, tránh sự thù hận, tôn trọng sự sống và nuôi dưỡng lòng từ bi. Tại sao?
          Con người và thú vật đều có sự sống, tình cảm thương ghét, cảm giác khổ đau, hạnh phúc và đặc biệt cả hai đều có linh hồn.
Ăn chay là không ăn máu, thịt của con người và các loài vật. Ngoài ra, ăn chay có thể dùng tàu hủ, bơ, sữa, rau quả và những chất bổ dưỡng bình thường . . .
          Những người nuôi gà công nghiệp nói rằng trứng gà công nghiệp không có trống, nên không thể nở con được. Nếu chúng ta không ăn thì trứng gà sẽ bỏ đi. Do đó, có người ăn chay vẫn dùng trứng gà công nghiệp. 
13. Lợi ích của bố thí là gì?
          Bố thí sẽ sinh phước báo.
Bố thí cái gì?
*Bạn có thể bố thí: 1) tiền, 2) vật chất 3) công sức qua sự giúp đỡ người khác, 4) Bố thí Phật pháp. Mọi thành công của cuộc đời đều do phước báo cả. Do đó, đức Phật dạy: “Các con làm lợi ích cho người, có nghĩa là các con làm lợi ích cho chính mình”. 
14. Lợi ích của phóng sanh?
          Chúng ta phóng sanh thú vật để tôn trọng sự sống, thể hiện tình thương với chúng và phát triển lòng từ bi của chúng ta. 
15. Ý nghĩa đọc Kinh?
         Kinh là lời dạy của đức Phật. Đọc Kinh là tìm hiểu về lời dạy của đức Phật. 
16. Ý nghĩa tụng kinh?
        Tụng Kinh là đọc lớn lên trong một nghi thức (hay còn gọi là nghi lễ) để cho mình và mọi người cùng nghe, đặc biệt là những người vô hình vẫn được nghe. Vì thế, nghi thức tụng Kinh là:
1) Tìm hiểu lời dạy của đức Phật.
2) Có thể cầu an và cầu siêu.
3) Thường đọc tụng Kinh giúp cho hành giả tập trung và định tâm lại. 
17. Ý nghĩa tụng thần chú?
-   Thần chú là mật ngữ của chư Phật, chư Bồ Tát. Tụng thần chú giúp cho hành giả tiêu trừ bớt nghiệp xấu.
-   Tụng thần chú giúp cho hành giả nhất tâm bất loạn và  thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu và ý. 
18. Ý nghĩa niệm Phật?
Về sự:
          Niệm là nhớ nghĩ; Phật là bậc giác ngộ, trí huệ, từ bi. Niệm Phật là nhớ nghĩ đến đấng giác ngộ, trí huệ và từ bi, để chuyển tâm mình hướng thiện, hướng thượng, hướng đến sự giải thoát và cầu đức Phật cứu độ.
Về lý:
           Niệm danh hiệu Phật liên tục là để cột tâm của mình đừng để cho tâm tán loạn. Nếu niệm Phật được nhất tâm, thì tâm sẽ định lại. Đó là phương pháp thanh tịnh hóa được tâm của mình.
19. Giữ giới có lợi ích gì?
        Giới là giúp chúng ta  biết được cái nào đúng; cái nào sai. Do đó, chúng ta giữ giới là để ngưng làm ác. Vậy, giới là nền tảng căn bản đạo đức con người.
20. Tu tập thiền định có lợi ích gì?
1) Đạt định lực.
2) Bớt loạn động.
3) Đạt chánh niệm.
4) Bớt suy nghĩ, lo lắng.
5) Bớt căng thẳng.
6) Phục hồi trí nhớ.
7) Thăng bằng thân và tâm.
8) Tâm được thanh tịnh và an lạc.
9) Tỉnh thức, giác ngộ.
10) Phát triển lòng từ bi.
11) Phát triển trí huệ.
21. Phương pháp ngồi thiền như thế nào?
* Cách ngồi thiền đếm hơi thở (quán sổ tức):
       Phương pháp nầy dùng hơi thở để cột tâm, giúp chúng ta diệt loạn tâm, thư giãn thân tâm và định được tâm. Phương pháp tu tập thiền định như sau:
  1. Tư thế ngồi thiền:
Ngồi được trên đất thì tiện hơn, vì giúp cho mình dễ tập trung hơn. Người già có thể ngồi trên ghế.
       Khi ngồi trên đất, nên ngồi trên bồ đoàn hay cái gối. Ngồi kiết già là chân trái để lên đùi phải và chân phải để lên đùi trái, sao cho hai đầu gối chống xuống đất, thì lưng dễ thẳng hơn; ngồi bán già là chỉ một chân trái để lên đùi phải hoặc chân phải để lên đùi trái, sao cho hai đầu gối chống xuống đất; nếu hai cách nầy không ngồi được thì ngồi bình thường, sao cảm thấy thoải mái cũng được.
       Như vậy thứ nhất là cách ngồi, thứ hai là phải thẳng lưng, thứ ba thẳng cổ, thứ tư mắt nhìn xuống sống mũi, thả lỏng, thứ năm uốn lưỡi để lên hàm răng trên, thứ sáu lưng quần không thắt chật bụng của mình, thứ bảy tay phải để lên tay trái, và toàn thân thả lỏng.
  1. Hành thiền:
       Hít vào sâu bằng mũi, đưa khí xuống đan điền  (ở bụng), thở ra từ từ bằng miệng. (3 lần)
Kế tiếp để hơi thở ra vào tự nhiên qua lổ mũi, không cần phải cố hít vào, thở ra. Chỉ cần theo dõi hơi thở ra vào mà thôi. Hơi thở vào, rồi hơi thở ra đếm thầm một; hơi thở vào, rồi hơi thở ra đếm thầm hai và đếm đến mười, sau đó bắt đầu đếm lại từ một đến mười.
Chúng ta có thể ngồi 15 phút hoặc 30 phút tùy ý. 
  1. Xả thiền:
  •  Hít vào sâu bằng mũi, đưa khí xuống đan điền (ở bụng), thở ra từ từ bằng miệng. (3 lần)
     -  Xoa hai tay cho ấm, massage mắt, mũi, mặt, trán, đầu, lỗ tai, ót, cổ.
     -  Xoay hai vai vòng tròn từ ngoài vào trong, kết hợp hơi thở, làm 5 lần và xoay ngược lại. Tay trái bóp cánh tay phải từ trong ra và đổi bên.
     -  Massage lưng và thận, đấm vào thận (bóp hai bàn tay lại, sau đó đưa ra sau, đấm vào thận. Thận nằm đối diện với cái rún phía sau).
    -   Duỗi hai chân ra và bóp từ trong ra ngoài, sao cho giãn gân cốt, rồi đứng dậy.
 22. Quý Thầy có làm lễ cầu siêu không?
          Quý Thầy thường làm lễ cầu siêu cho mọi người. Bởi vì, chư Phật, chư Bồ Tát nguyện độ tất cả chúng sanh. Do đó, Chư Phật và Chư Bồ Tát đều thị hiện các cõi để hóa độ chúng sanh. Chư Phật và chư Bồ Tát đều an trú trong đại định, nên quý Ngài đều có lục thông. Chư Phật và Bồ Tát đều thấy chúng ta làm gì, đều nghe chúng ta nói gì, đều biết chúng ta nghĩ gì .v.v. Quý Ngài còn biết quá khứ và tương lai của chúng sanh. Vì vậy, Chư Phật và Bồ Tát là người thật lực tha lực.
          Thông thường, sau lễ tang, quý Thầy làm lễ cầu siêu mỗi tuần ( sau 7 ngày ) và cho đến 49 ngày. Nếu gia đình có thời gian, thì gia đình có thể làm lễ cầu siêu mỗi ngày trong suốt 49 ngày, 100 ngày và đồng thời làm cầu siêu cho lễ giỗ mỗi năm?
 23. Ý nghĩa hồi hướng?
       Nguyện đem công đức của mình có được, hồi hướng cho pháp giới chúng sanh ở mười phương đều thành Phật đạo. Chúng ta tu tập hay làm công đức gì cũng phải cầu nguyện, nghĩ đến hồi hướng cho chúng sanh, để mở tâm từ bi của mình.
 24. Thế nào là sự vô thường?
          Vô thường là sự biến đổi của các hiện tượng và các pháp (các sự vật) theo quy luật thành trụ hoại không; sinh trụ dị diệt.
Ví dụ:
    - Trái đất nầy luôn quay và di chuyển. Tuy nhiên, nó cũng theo quy luật hình thành, và duy trì trụ lại một thời gian, rồi nó sẽ biến đổi hủy hoại đi. Tới một lúc nào đó, nó tan vỡ và trở về không.
    - Thời tiết lúc nào cũng thay đổi từ mùa xuân tới mùa hạ, mùa thu, mùa đông; rồi lại xuân. Nên nắng, mưa, gió, nóng, lạnh  thay đổi bất thường.
    -  Hoàn cảnh môi trường sống của con người cũng thay đổi.
    - Thân người được sinh thành người, rồi trụ một thời gian, già lần bị hoại, rồi chết là không còn gì. Vậy, thân này cũng biến đổi theo luật vô thường.
   - Tâm con người cũng thay đổi. Lúc tham, lúc sân, lúc si mê,  lúc vui, lúc buồn, lúc ganh tị, lúc thương, lúc ghét, lúc nhớ, .v.v.
   - Qua đó, chúng ta thấy các pháp, các hiện tượng đều biến đổi không ngừng. Vì vậy gọi là luật vô thường.
25. Thế nào là thần thông?
          Thần thông là nguồn năng lượng hay năng lực của tâm. Đó là do tu tập thiền định.
 26. Nghiệp nghĩa là gì?
          Nghiệp là được dịch từ chữ Karma (Tiếng Sancrit Ấn Độ). Nghiệp là chỉ cho sự hoạt động của thân, khẩu và ý. Những gì chúng ta làm, những gì chúng ta nói và những gì chúng ta suy nghĩ gọi là nghiệp.
Ví dụ: chúng ta làm ác, gọi là nghiệp ác; chúng ta làm thiện, gọi là nghiệp thiện. Vậy, Nghiệp thiện, ác là tùy vào sự hoạt động của thân, khẩu và ý.
27. Thế nào là luật nhân quả?
          Trong xã hội, chúng ta có thể thấy sự khác biệt rất lớn giữa người giàu và người nghèo; người sống thọ và người chết yểu; người đẹp và người xấu; người mạnh khỏe và người tàn tật; Người thông minh và người ngu dốt; .v.v. tất cả là đều do luật nhân quả cả. Ai đã tạo ra luật nhân quả? Không ai tạo ra nó cả. Đây là nguyên lý chung của vũ trụ nhân sinh.
      -Nếu chúng ta tạo nghiệp ác, nghiệp ác là nhân. Nhân ác nầy sẽ đưa đến quả ác.
      -Nếu chúng ta tạo nghiệp thiện, thì nghiệp thiện là nhân. Nhân thiện nầy sẽ đưa đến quả thiện.
Ví dụ:
      -Tên ăn trộm ăn cắp hột xoàn của người. Cảnh sát bắt họ vào nhà tù. Việc ăn trộm là nghiệp nhân ác; ngồi nhà tù là quả ác phải chịu.
      -Anh sinh viên học y khoa sau 6 năm. Anh ta trở thành một vị Bác sĩ. Học 6 năm y khoa là nhân; thành một vị bác sĩ là quả.
     -Đức Phật tu giới, tu định, tu huệ thành Phật (Bậc giác ngộ). Tu giới, tu định, tu huệ là nhân; thành Phật là quả.
     -Nếu ai nói rằng: “ Tôi là Thánh nhân”. Thánh nhân là quả. Vậy, chúng ta phải tìm hiểu người đó tu nhân gì để trở thành Thánh nhân. Nếu quả Thánh nầy không có nhân. Vậy, quả Thánh nầy không thật.
    -Vì thế, đức Phật dạy rằng hễ ai tạo nghiệp thiện ác, thì họ không tránh được luật nhân quả. Cho nên, đức Phật dạy chúng ta hiểu biết về luật nhân quả để chúng ta gieo nhân tốt. Nếu chúng ta đã gieo nhân tốt rồi, thì quả thiện sẽ đến với chúng ta.
28.  Thế nào là luân hồi?
          Con người sau khi chết đi sẽ thay hình dạng sang kiếp khác trong ba cõi. Đó là dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Tại sao? Bởi vì, chúng sanh tạo nghiệp thiện ác. Nghiệp thiện ác là nhân; nhân thiện ác nầy sẽ đưa đến quả thiện ác. Do vì có nhân quả nên mới có tương lai và kiếp sau. Bởi vậy, chúng sanh phải bị luân hồi đời đời kiếp kiếp qua bốn cách sanh: đó là thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh.
28.1. Dục giới:
       Dục nghĩa là ham muốn. Dục giới là thế giới có người nam và nữ để thỏa mãn lòng ham muốn, gồm sáu loại là Trời (trời dục giới), người, A Tu La, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh.
  1. Trời dục giới:
Người có làm phước bố thí và tu thập thiện, sau khi chết được sanh lên cõi trời dục giới hưởng phước.
Cõi trời dục giới có 6 cõi như: Trời Tứ Thiên Vương, trời Đao Lợi, trời Dạ Ma, trời Đâu Xuất, trời Hóa Lạc và trời Tha Hóa Tự Tại.
  1. Người:
Người biết giữ 5 giới, khi chết sanh lại làm người đạo đức.
Cõi người thường ở 4 châu như: Đông Thắng Thần Châu; Nam Thiện Bộ Châu; Tây Ngưu Hóa Châu và Bắc Cu Lô Châu.
  1. A Tu La:
Người có làm phước thiện, nhưng sân si, nóng nãy và thích đấu tranh, chết sanh làm A Tu La. A Tu La có Thiên A Tu La và Nhân A Tu La
  1. Địa ngục:
Người sân hận tạo ác nghiệp, chết đọa địa ngục, chịu hình phạt.
  1. Ngạ quỷ:
Người tham lam, bỏn xẻn, ích kỷ, chết đọa làm ngạ quỷ (quỷ đói).
  1. Súc sanh:
Người ngu si không giữ giới tạo ác nghiệp, chết đọa làm súc sanh.
 
28.2. Sắc giới:
        Sắc là sắc thân, thân tướng. Sắc giới là cõi trời có thân tướng, nhưng không có nam nữ. Bởi vì, những người nầy đã lìa sự ham muốn ái dục và dâm dục của con người. Họ chỉ lo an vui trong thiền định.
Sắc giới gồm có 4 giai đoạn tu thiền của phàm phu, đi dần từ chỗ nhàm chán cái vui thô thiển đến cái vui vi tế thanh tịnh như: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.
  1. Sơ thiền (Ly sanh hỷ lạc):
          Hành giả khởi đầu bằng tâm lý nhàm chán, xa lìa cái ô trược ái dục và dâm dục của cõi dục. Sau khi nhờ tham thiền mà xa lìa được cái ô trược của dục giới, hành giả sanh vui mừng (sanh hỷ lạc). Đó là kết quả tham thiền đầu tiên (sơ thiền).
* Sơ thiền gồm có 3 cõi trời như: trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, trời Đại Phạm
  1. Nhị thiền (Định sanh hỷ lạc):
          Những cái vui mừng nói trên, lại làm cho tâm chao động, cần phải dứt trừ; vì thế hành giả phải vào định. Khi định đã có kết quả, các vui mừng thô phù của sơ thiền chấm dứt và cái vui mừng vi tế ở trong định lại nẩy sanh; vì thế cho nên gọi là định sanh hỷ lạc.
* Nhị Thiền gồm có 3 cõi trời như: Trời Thiểu Quang, Trời Vô Lượng Quang, Trời Quang Âm.
  1. Tam Thiền (Ly hỷ diệu lạc):
           Cái vui mừng của nhị thiền mặc dù vi tế, nhưng vẫn còn làm cho tâm rung động. Vì thế, hành giả cần phải loại bỏ cái vui mừng ở Nhị thiền. Khi bỏ được cái vui mừng nầy, thì một nỗi vui mầu nhiệm khác lại phát sanh. Vì thế cho nên gọi là Ly hỷ diệu lạc.
Tam Thiền gồm có 3 cõi trời: trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh.
           Trong các kinh thường chép: cõi Tam thiền thì vui hơn hết (diệu lạc). Vì các cõi dưới thì chỉ có cái vui thô động, còn ở các cõi trên thì chỉ là tịch tịnh, không còn vui nữa.
  1. Tứ Thiền (Xả niệm thanh tịnh):
          Ở cõi Tam thiền, tuy đã hết cái vui thô động của sơ thiền và nhị thiền; nhưng vẫn còn cái vui mầu nhiệm. Nhưng hễ còn niềm vui, thì tâm chưa hoàn toàn thanh tịnh. Hành giả lại còn phải tiến lên một bậc nữa, đi vào cái thiền thứ tư xả luôn cái niệm vui, để tâm được hoàn toàn thanh tịnh, vì thế nên gọi là xả niệm thanh tịnh.
Tứ Thiền gồm có 9 cõi trời như: Trời Vô Vân, Trời Phước Sanh, Trời Quảng Quả, Trời Vô Tưởng, Trời Vô Phiền, Trời Vô Nhiệt, Trời Thiện Kiến, Trời Thiện Hiện, Trời Sắc Cứu Cánh.
 
28.3. Vô sắc giới (Tứ không định):
          Người ở cõi này không có thân, chỉ có tâm thức. Sau khi đã trải qua Tứ Thiền và đã thành tựu viên mãn, hành giả tiếp tục tu thiền định và sẽ trải qua bốn giai đoạn gọi là tứ không định sau đây. Sở dĩ gọi là tứ không, vì khi vào bốn định nầy, thiền giả sẽ không còn thấy có cảnh hay vọng tâm nữa.
  1.  Không Vô Biến Xứ Định:
          Thiền giả khi đã đạt được Tứ Thiền, tâm đã được hoàn toàn thanh tịnh, nhưng vẫn còn có thấy sắc giới, còn thân, còn cảnh và bị hình sắc trói buộc, nên sanh tâm nhàm chán. Để rời bỏ các hình sắc về thân và cảnh, thiền giả vào định thứ nhất của Tứ Không, thể nhập với hư không vô biên, tức là không thấy có ngăn cách, có biên giới của cảnh.
  1.  Thức Vô Biên Xứ Định:
          Thiền giả khi đã được định thứ nhất của Tứ Không, rời bỏ được sắc tướng của thân và cảnh, thấy được cái vô biên của hư không, nhưng vẫn còn giữ cái bản ngã hẹp hòi, vẫn còn thấy biên giới của tâm thức. Vậy thiền giả phải vào định thứ hai của tứ thiền, để xóa bỏ cái biên giới của thức; khi thành tựu, tức thể nhập được vào cõi Thức Vô Biên.
  1.  Vô Sở Hữu Xứ Định:
            Thiền giả mặc dù không còn thấy biên giới, ngăn cách của thức, nhưng vẫn còn thấy có ngã, có tâm thức, có năng sở, mà hễ còn thấy có năng sở, tức còn thấy mình và người, còn thấy có sở hữu. Vậy, thiền giả phải vượt lên một tầng nữa, xa lìa sự chao động, năng sở, tức nhập định Vô Sở Hữu Xứ (cõi không sở hữu).
  1.  Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định:
            Thiền giả khi đã nhập định Vô Sở Hữu, không còn thấy nhân ngã, năng sở, nhưng vẫn còn tưởng, mà còn tưởng thì còn vọng động. Vậy, thiền giả phải tiến lên một tầng nữa, vào cõi định không tưởng. Nhưng không tưởng đây, không có nghĩa là vô tri, vô giác như đất đá. Không tưởng, nhưng không phải không tưởng của đất đá, không tưởng mà vẫn sáng suốt như một tấm gương, chứ không phải là một tấm ván hay mặt đá. Đó là ý nghĩa của cõi tịnh Phi Tưởng Phi Phi Tưởng.
29. Thế nào là Phật tử tại gia?
          Phật tử tại gia là người có lập gia đình, đã quy y Tam Bảo và thọ nhận 5 giới cấm.
+ Quy y Tam Bảo:
          Quy y Tam Bảo nghĩa là gì? Chữ Quy là trở về; y là nương tựa; Tam Bảo là ba ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo.
Phật Bảo:
           Bảo là những thứ đồ quý báu như vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, .v.v. Phật quý hơn đồ quý báu ở cuộc đời này. Vì Phật là bậc giác ngộ, hiểu được sự thật của cuộc đời nầy. Sự thật đó chính là chân lý. Ngài là bậc trí huệ, từ bi cứu độ chúng sanh qua cuộc đời lịch sử và giáo lý của Ngài.
Pháp Bảo:
           Pháp là những lời dạy, là những phương pháp giải khổ, chuyển sự si mê thành giác ngộ, chuyển người phàm phu thành thánh nhân, đưa chúng sanh thoát ly sanh tử luân hồi. Vì thế, pháp của đức Phật gọi là “pháp xuất thế gian”. Pháp thế gian chỉ là những kiến thức giúp cho con người có một nghề nghiệp để mưu sinh kiếm tiền nuôi tấm thân nầy. Ví dụ như nha sĩ, bác sĩ, kỹ sư .v.v.
Tăng Bảo:
          Tăng là một đoàn thể từ bốn người trở lên sống hòa hợp và tu tập chân chánh theo giáo pháp của đức Phật.
  • Vậy quy y Tam Bảo là phát tâm trở về nương tựa Phật bảo, Pháp bảo và Tăng Bảo cho đến khi thành Phật.
+ 5 giới cấm :
          5 giới cấm gồm: 1) Không sát sanh; 2) không gian tham trộm cắp; 3) không tà dâm; 4) không nói dối; 5) không uống rượu.
  1. Không sát sanh: Tất cả chúng ta ai sống rồi, cũng chết. Không ai có thể sống mãi mãi được. Vì thế, những ngày chúng ta còn sống chung với nhau, chúng ta phải thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau. Giết người và vật không giúp cho chúng ta mạnh khỏe hơn, sống lâu hơn và sống hoài không chết. Chúng ta không thể hạnh phúc được, trong khi chúng sanh khác đau khổ, bị giết chết. Vì thế, chúng ta lợi dụng lúc sống để thể hiện lòng từ bi với nhau và bảo vệ sự sống. Do đó, đức Phật dạy không sát sanh.
          Không sát sanh là không tự giết, bảo người giết và thấy người giết con người và loài vật, mà sanh tâm vui mừng. Vì con người và loài vật đều có sự sống, tình cảm, cảm giác khổ, vui .v.v. Chỉ có điều loài vật không nói được, không đi học được và không có lý trí cao như con người. Nói chung, con người và con vật đều có tâm thức hay nói cách khác là linh hồn. Tội sát sanh sẽ bị ngồi tù, đọa địa ngục và bị thù hận.
2)       Không trộm cắp: là không tự mình trộm cắp,không bảo người trộm cắp và thấy người trộm cắp, mà sanh tâm vui mừng. Tội trộm cắp bị ngồi tù và quả báo nghèo nàn, làm nô lệ.
  1. Không tà dâm: là không được có nhiều vợ, nhiều chồng, để bảo vệ hạnh phúc gia đình.
  1. Không nói dối: *Nói dối có 4 cách. 1. Chuyện có nói không, chuyện không nói có; 2. Nói lưỡi đôi chiều là qua người nầy nói xấu người kia, qua người kia nói xấu người nầy; 3. Nói ác khẩu là chửi rủa người; 4. Nói ỷ ngữ là nói ngon ngọt lừa gạt người.
  2. Không uống rượu: là không được uống rượu và các chất say, sử dụng thuốc phiện, ma túy . . . Vì chất say làm con người không tỉnh táo và kích thích người có thể giết người, trộm cắp, tà dâm, nói dối và làm mất giống trí huệ .v.v.
          Đức Phật dạy chúng sanh tu giữ những giới nầy là để ngăn ngừa làm việc ác. Giữ giới được là người đạo đức.
          Phật tử tại gia là người có trách nhiệm hộ trì Tam Bảo.
 
30. Thế nào là Tam Bảo?
          Tam Bảo gồm Phật, Pháp và Tăng.
  • Đức Phật là một bậc giác ngộ chân lý của cuộc đời và chân tâm.
  • Pháp là lời dạy của đức Phật.
  • Tăng là một đoàn thể Tăng đoàn từ 4 vị trở lên, đang học và tu theo lời đức Phật dạy.
 
31. Thế nào là tu sĩ?
          Tu nghĩa là sửa đổi; sĩ là kẻ học hỏi. Tu sĩ là người học đạo đức và tu sửa nhân cách đạo đức của mình.
          Chúng ta biết rằng những người tu sĩ là người phát tâm học hỏi và tu sửa bản thân. Người tu sĩ có cái tốt, có cái xấu như mọi người, chứ không phải họ là người hoàn toàn tốt. Thông thường, những người tập tu là những người xấu, còn có đúng sai. Vì vậy mà họ mới lo tu sửa. Khi nào, họ tu học hoàn hảo rồi, thì họ gọi là Thánh nhân, Bồ Tát hay Phật. Còn những người không cần tu sửa, đa phần là những người đã tốt rồi.
 
32. Thế nào là người xuất gia?
          Mọi người đều có thể thành người xuất gia. Người xuất gia là người không có lập gia đình, rời khỏi gia đình vào Chùa tu học.
Người xuất gia học Phật pháp và tu giới, tu định và tu huệ. Người xuất gia có trách nhiệm là thuyết pháp cho các Phật tử.
 
33. Tại sao người xuất gia phải cạo đầu và mặc y áo?
          Người xuất gia là người tu học đạo xuất thế. Cho nên, cạo đầu, mặc y phục là để khác người đời. Đây là hình thức của người tu đạo.
 
34. Tại sao chư Tăng đi khất thực?
          Chư Tăng đi khất thực là để cho mọi người bố thí tạo phước và kết thiện duyên với Chư Tăng. Đồng thời, Chư Tăng tụng Kinh cầu nguyện phước báo cho người tín thí trước khi ăn.
 
35. Thế nào tu thành người đạo đức?
          Đức Phật dạy rằng ai giữ được 5 giới cấm, thì họ là con người đạo đức. Khi chết họ không bị rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Kiếp sau, họ sanh làm người trở lại.
*5 giới cấm gồm: 1) Không sát sanh; 2) không gian tham trộm cắp; 3) không tà dâm; 4) không nói dối; 5) không uống rượu.
 
36. Thế nào tu thành chư thiên?
          Đức Phật dạy rằng ai giữ được 10 giới cấm và tu tập pháp bố thí. Sau khi chết, họ sẽ sanh làm người trời ở cõi trời dục giới.
          *10 giới gồm:
  • Thân có 3 giới: 1) Không sát sanh; 2) Không trộm cắp; 3) Không tà dâm.
  • Miệng có 4 giới: 4) Không nói dối; 5) Không nói lưỡi đôi chiều; 6) Không lời hung ác; 7) Không nói ỷ ngữ.
  • Ý có 3 giới: 8) Không tham lam; 9) Không sân hận; 10) Không si mê. 
37. Niết bàn là gì?
         Niết bàn là vô sanh, tịch tịnh. Vô sanh là không còn sanh tử luân hồi. Tịch tịnh là trạng thái thanh tịnh của tâm. Niết bàn là quả chứng của bậc A La Hán.
 
38. Thế nào là bậc Thánh Thanh Văn?
38.1. Thế nào là Thánh Thanh Văn:
- Thánh Thanh Văn là người không sát sanh, giết người và vật, không trộm cướp, không tham ái, không hành dâm, không nói dối và không uống rượu .v.v. không phạm luật quốc gia (không phạm pháp).
- Thánh Thanh Văn  là người không phiền não, khổ đau.
- Thánh Thanh Văn là người không tham lam, sân hận, si mê, không giận hờn, thương, ghét, ích kỷ, ganh tỵ, gian dối, bỏn xẻn .v.v.
- Thánh Thanh Văn là người giác ngộ chân lý.
- Thánh Thanh Văn là người tâm hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh.
- Thánh Thanh Văn là người xuất thế, là bậc vô sanh. Họ muốn sống hay chết tùy ý.
- Thánh Thanh Văn  là người đã đạt được Niết Bàn (Niết bàn là trạng thái thanh tịnh của chân tâm).
38.2. Có mấy bậc Thánh Thanh Văn:
Bậc Thánh Thanh Văn gồm có 4 bậc: 1) Tu Đà Hoàn; 2) Tư Đà Hàm; 3) A Na Hàm; 4) A La Hán.
38.3. Thánh Thanh Văn tu nhân gì?
Những bậc Thánh Thanh Văn tu tập pháp môn: Tu giới, tu định và tu huệ.
*Tu giới: là đoạn trừ tất cả điều ác, dứt trừ nghiệp nhân sanh tử luân hồi.
*Tu định: là thanh tịnh hóa tâm.
* Tu huệ: là diệt trừ vô minh, phiền não, khổ đau, tham, sân, si, .v.v.
         Những hành giả chứng quả bậc Thánh Thanh Văn đều có lục thông như: 1) thiên nhãn thông (mắt thấy thông suốt), 2) thiên nhĩ thông (tai nghe thông suốt), 3) thần túc thông (thân biến hiện tùy ý),  4) túc mạng thông (biết thông suốt chuyện quá khứ), 5) Tha tâm thông (Thông suốt tâm ý người khác), 6) Lậu tận thông ( trí huệ thông suốt diệt sạch vô minh).
 
39. Thế nào là bậc Bồ Tát?
39.1. Thế nào là bậc Bồ Tát?
          Bồ Tát nghĩa là Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề là giác ngộ, đại đạo tâm; Tát Đỏa là chúng sanh hữu tình. Chúng sanh hữu tình phát đại đạo tâm là Bồ Đề Tát Đỏa, gọi tắt là Bồ Tát.
    - Bồ Tát và Thánh Thanh Văn đều là những bậc giác ngộ, giải thoát sanh tử luân hồi, .v.v. như nhau. Tuy nhiên, các vị Thánh Thanh Văn đi theo con đường xuất thế, ra khỏi luân hồi, không muốn trở lại Tà Bà nữa. Còn Bồ Tát phát nguyện đại bi tâm nhập thế, xuống cõi Ta Bà thực hành Bồ Tát đạo hóa độ chúng sanh.
39.2. Có mấy bậc Bồ Tát?
          Bồ Tát có 52 quả vị: thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác và diệu giác. Tại sao có nhiều quả vị như vậy? vì các bậc Bồ Tát trí huệ, thần thông khác nhau.
39.3. Bồ Tát tu nhân gì?
         Bồ Tát tu nhân phát Bồ Đề tâm, tu bồ đề tâm và hành bồ đề tâm.
*Phát Bồ Đề Tâm là phát tâm thành Phật và phát đại bi tâm độ tất cả chúng sanh.
*Tu Bồ Đề Tâm là tu lục độ ba la mật. Lục độ Ba La mật (là 6 phương pháp để đưa chúng sanh qua bờ giác gồm: 1) Bố thí; 2) Trì giới; 3) Nhẫn nhục; 4) Tinh tấn; 5) Thiền định; 6) Trí huệ.
1) Bố thí: là diệt tâm tham lam; lợi ích chúng sanh.
2) Trì giới: là diệt trừ tất cả điều ác.
3) Nhẫn nhục: là diệt tâm sân hận; nuôi dưỡng và phát triển lòng từ bi.
4) Tinh tấn: là diệt tâm lười biếng.
5) Thiền định: là diệt tâm tán loạn; ngược lại để định tâm và thanh tịnh tâm.
6) Trí huệ: là diệt trừ tâm vô minh; phát triển trí huệ.
*Hành Bồ Đề Tâm là thực hành Bồ Tát đạo hay nói cách khác là thực hành đại bi tâm cứu độ tất cả chúng sanh.
 
40. Thế nào là vị Phật?
          Đức Phật là người tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn.
*Tự giác: Ngài tự giác ngộ viên mãn.
*Giác tha: Ngài đã thực hành Bồ Tát đạo hóa độ chúng sanh viên mãn.
*Giác hạnh viên mãn: hai điều tự giác và giác tha đã thành tựu.
 
III. Kết luận
          Ở đời có nhiều thú vui, khoái lạc, mà có thể làm cho người ta cảm giác vui sướng, hạnh phúc. Vì lẽ đó, con người mãi đam mê chạy theo để đạt được hết tất cả những hạnh phúc nói trên, cho đến khi nào người ta cảm thấy thân nầy không còn hoạt động được nữa, thì mới thôi. Vì lẽ đó mới nói: “Cuộc đời là cõi mê”. Khi thân nầy tan rã mất đi, thì những cảm giác vui, buồn, khoái lạc, sung sướng, hạnh phúc, .v.v. đều theo đó tan biến và lúc đó tâm ham muốn khởi lên quyến luyến, nuối tiếc cái hạnh phúc nói trên, rồi đau khổ sẽ từ đấy phát sanh. Ôi! Hạnh phúc chỉ có tạm bợ, mà khổ đau thì thật sự triền miên!
          Hạnh phúc không tự nhiên đến với mọi người. Do đó, mọi người ai cũng đi tìm hạnh phúc. Hạnh phúc có được từ bên ngoài qua ai đó, vật chất nào đó, hay qua cảm giác nào đó, .v.v. nó lại không có tồn tại hoài mãi. Do vậy, cái hạnh phúc nào, mà chúng ta cảm thấy vui sướng nhất, khi nó mất đi, thì chính cái hạnh phúc đó làm chúng ta đau khổ nhất và chính nó sẽ giết chúng ta chết một ngày nào đó. Đức Phật chỉ chúng ta đi tìm cái chân hạnh phúc, nó không lệ thuộc vào ai, hay lệ thuộc vào cảnh bên ngoài. Cái chân hạnh phúc đó không đâu xa; đó chính ở trong ta. Mặc dù, chân hạnh phúc có sẵn trong ta, nhưng không phải chúng ta muốn là nó đến, mà chúng ta phải tạo ra, hay nói cách khác là chúng ta phải tu tập. Đức Phật dạy rằng:
1) Không làm việc ác
2) Làm việc thiện
3) Thanh tịnh hóa tâm mình.
Khi tâm thanh tịnh, thì không còn phiền não, khổ đau nữa. Cái hạnh phúc nầy mới bền lâu. “Nếu sống an lạc, thì chết bình an”.
 
Chùa Phật Linh ngày 01/09/2015
Thích Hạnh Định
 

III - Phương pháp tu hành
 
NHÂN TU HÀNH CỦA CHƯ PHẬT CHƯ BỒ TÁT
Pháp Môn Tu Phật Giáo Bắc Tông

  Mục lục
A. GIỚI THIỆU
B. NỘI DUNG
I. TU NHÂN ĐẠO

1. Quy y Tam Bảo
2. Tu giữ 5 giới
3. Tu tứ Ân
II. TU THIÊN ĐẠO
III. TU THÁNH ĐẠO
1. Thế nào là một vị Thánh A La Hán?
IV. TU BỒ TÁT ĐẠO
1. Phát tâm Bồ Đề
2. Tu tâm Bồ Đề
2. Tu tập trì giới Ba La Mật
3. Tu tập nhẫn nhục
4. Tu tập tinh tấn Ba La Mật
5. Tu tập thiền định Ba La Mật
6. Tu tập trí huệ Ba La Mật
V. TU PHẬT ĐẠO
C. KẾT LUẬN

 
  1. GIỚI THIỆU
         Con người sanh ra để hưởng thụ qua ngũ dục như tài, sắc, danh, thực, thùy (Ngủ nghỉ), .v.v. Con người trải qua một chu kỳ già, bệnh và cuối cùng là chết. Đó là một kiếp nhân sinh, mà con người từ vô lượng kiếp mơ mộng một kiếp sống giả tạm. Sau đó, con người sẽ tiếp tục luân hồi trong lục đạo như trời, người, A Tu La, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Do đó, con người muốn chấm dứt cái khổ của tham, sân, si; cái khổ của già, bệnh và chết; cái khổ của luân hồi, thì con người tu thành Bồ Tát, thành Phật, thì con người mới chấm dứt cái khổ nói trên. Chư Phật, chư Bồ Tát đã vào luân hồi trong vô lượng kiếp để gần gủi và chỉ dạy chúng sanh con đường thoát ly sanh tử luân hồi hay còn gọi là con đường xuất thế.
         Được làm thân con người rất khó và được gặp Phật pháp còn khó hơn, vì Phật pháp là chánh pháp. Tại sao nói như vậy? Bởi vì chỉ có Phật pháp mới hướng dẫn nhân sinh thoát ly sanh tử luân hồi hay nói cách khác là chỉ có Phật pháp mới dạy nhân sinh tu hành thành Thánh, thành Bồ Tát và thành Phật. Con người có khổ, có lạc và có lý trí. Do đó, con người có thể tu học tiến thân. Vì thế, các bậc Thánh nhân muốn thành đạo chứng quả, thì họ đều phải có thân người để tu học. Hôm nay, hễ ai được gặp chánh pháp, thì quý vị nên nắm lấy cơ hội nầy để tu học tiến thân, đừng để thời gian qua không, uổng đi một kiếp nhân sinh.
Con người muốn thoát cái khổ sanh tử luân hồi, thì con người phải thành Thánh, thành Bồ Tát và thành Phật. Vậy, con người phải tu như thế nào thành Phật?
          Chư Phật, chư Bồ Tát đều trải qua ba a tăng kỳ kiếp tu tập 1) Tu phát tâm Bồ Đề, 2) Tu tâm Bồ Đề, 3) Thực hành tâm Bồ Đề. Nhờ vậy, các Ngài đã thành Bồ Tát và thành Phật. Ở đời, người ta muốn thành ông Bác sĩ, thì họ phải học xong cấp I, cấp II, cấp III, rồi lên đại học y khoa. Hoàn tất chương trình y khoa xong, họ mới chứng nhận là Bác sĩ được. Tương tự như vậy, hành giả tu Phật đạo, thì trước phải tu I - Nhân đạo, II – Thiên đạo, III – Thánh, IV – Bồ Tát đạo, V – Phật đạo. Đây là nhân tu hành của Chư Phật và Chư Bồ Tát.
 
I. TU NHÂN ĐẠO:
Bạn muốn tu làm Thánh, thì bạn phải tu nhân đạo trước, rồi sau mới tu Thánh đạo. Tại sao? Bạn không kính trên nhường dưới; bạn bất hiếu cha mẹ, .v.v. Căn bản đạo đức con người mà bạn không làm được, thì sao bạn làm Thánh được. Nhân đạo là gì? Nhân đạo là đạo đức con người như: 1. Quy y Tam Bảo; 2. Tu giữ 5 giới; 3. Tu tứ ân.
  1. Quy y Tam Bảo:
         Phật tử là con của Phật, thì trước tiên phải làm lễ xin quy y Tam Bảo. Vì Tam Bảo là thuyền Bát Nhã để đưa chúng sanh sang bờ chánh giác. Quy y Tam Bảo là trở về nương tựa Phật, vì Phật là bậc giác ngộ chân lý; Nương tựa Pháp là nương tựa lời dạy của Phật; Nương tựa Tăng là đoàn thể chư Tăng đang tu học theo chánh pháp.
  1. Tu giữ 5 giới:
          Ngoài ra, bạn phải tu giữ 5 giới để ngăn chặn bạn tạo ác nghiệp như: 1) Không sát sanh, 2) Không trộm cắp, 3) Không tà dâm, 4) Không nói dối, 5) Không uống rượu.
 
SỰ LỢI ÍCH CỦA 5 GIỚI CẤM
 Đức Phật đã dạy nhân sinh 5 giới căn bản phải tu tập:
+ Biến ta bà thành thiên đàng
Điều thứ nhất là không sát sanh, nghĩa là không giết hại người và vật. Tại sao đức Phật dạy đầu tiên là giới không sát sanh? Trước tiên, chúng ta có thể tìm hiểu hậu quả của việc sát sanh:
1. Nếu bạn vi phạm sát sanh con người, thì cảnh sát sẽ bắt bạn ra tòa án để xét xử tội của bạn và đưa bạn vào nhà tù.
2. Sau khi chết, ông Diêm Vương giam cầm bạn dưới địa ngục.
3. Những người bị giết sẽ tìm bạn trả thù nhiều kiếp.
4. Khi bạn sanh lại làm người, thì bạn có nhiều bệnh tật, gặp nhiều tai nạn, chết yểu, không sống thọ, v.v...
5. Bạn sẽ sanh vào đất nước chiến tranh và bạn sẽ cầm súng ra chiến trận để giải quyết ân oán tiền kiếp.
Nếu con người tin đức Phật và làm theo lời dạy của đức Phật không sát sanh, thì thế giới này không còn chiến tranh, tự nhiên hòa bình, công ty vũ khí sẽ đóng cửa, không ai sẽ làm vũ khí giết người nữa. Vì điều này đã giúp con người ngưng làm ác và thể hiện tình thương và lòng từ bi đúng nghĩa.
         Điều thứ hai là không gian tham trộm cướp. Nếu con người hiểu và làm đúng như lời đức Phật dạy con người không gian tham trộm cướp tài sản của người khác, thì thế giới này không còn nhà tù và địa ngục. Cảnh sát và ông tòa án không phải lo tệ nạn xã hội. Nhà bank có thể đóng cửa, chúng ta đi ngủ hay đi chơi cũng không cần phải đóng cửa và lo sợ mất trộm.
         Tóm lại, nhân sinh thực hiện hai điều này, có nghĩa là đức Phật đã dạy cho nhân sinh biến cõi này thành một thế giới thái bình, trong xã hội không lo trộm cướp, không nhà tù, mọi người sống an vui, hay nói cách khác là nhân sinh đã tự biến thế giới ta bà này thành thiên đàng.
+ Xây dựng hạnh phúc gia đình
Điều thứ ba là không tà dâm hay nói cách khác là giới bảo vệ hạnh phúc gia đình. Nếu bạn lập gia đình, thì bạn chỉ cưới một vợ hay một chồng, không ngoại tình. Vì bạn ngoại tình hay bạn có hai chồng hoặc có hai vợ, thì trong gia đình sẽ xảy ra ghen tuông, xung đột, cải lộn với nhau. Do đó, gia đình khó có hạnh phúc trọn vẹn. Do đó, bạn không tà dâm, thì gia đình của bạn có thể hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, bạn muốn lập gia đình hay không lập gia đình, đó là quyền quyết định của bạn. Ngay cả, bạn muốn chung sống tiếp tục hay ly dị, thì bạn tự quyết định. Tại sao? Vì bạn cưới hỏi là để xây dựng hạnh phúc. Nếu bạn lập gia đình, mà bạn sống như trong địa ngục, thì bạn tự quyết định ly dị. Sau khi ly dị, thì bạn có thể kết hôn với người khác vẫn được. Đó là quyền tự do hạnh phúc của mình. Tóm lại, Đức Phật dạy nhân sinh không tà dâm, thì nhà nhà hạnh phúc an vui.
+ Tu tập tư cách đạo đức
         Điều thứ tư là không nói dối. Không nói dối gồm có 4 cách:
1. Nói dối: Nói dối là chuyện có nói không, chuyện không nói có.
2. Nói lưỡng đôi chiều: Nói lưỡi đôi chiều là đến người này nói xấu người kia, đến người kia nói xấu người này để cho hai bên bất hòa, cải nhau, xung đột gây ra chiến tranh giặc giả.
3. Nói lời hung ác: Nói lời hung ác là bạn chữi, rũa hay trù ẻo cho người khác chết đi.
4. Nói ỷ ngữ: Nói ỷ ngữ là dùng lời ngon ngọt để dụ dỗ, lừa gạt người khác.
Đức Phật dạy nhân sinh không nói dối và ngược lại nhân sinh phải nói lời thật thà. Nếu nhân sinh đều làm theo như vậy, thì đó cũng chính là tu tập tư cách đạo đức cá nhân. Trường hợp bạn nói dối vì cứu người, tránh né tệ nạn xã hội thì tạm được. Ví dụ như ai đó hỏi gia đình mình có bao nhiêu tiền và cất giữ ở đâu, thì mình không nói thật được. Đó chính là khôn khéo và cũng là trí huệ.
+ Diệt si mê và phát triển trí huệ
         Điều thứ năm là không uống rượu, dùng chất say. Nếu bạn uống rượu, thì rượu là chất khích thích, nó sẽ làm tê liệt tế bào não, cơ quan nội tạng bị suy yếu và bạn sẽ say mê. Bạn không kiểm soát được mình đang nói gì, đang làm gì và đang suy nghĩ gì . . . khi bạn đã bị nghiện rượu hoặc chất say, thì tương lai bạn bị mất sức lao động và mất trí nhớ, mất luôn hạt giống trí huệ. Đức Phật dạy nhân sinh ngưng dùng chất say. Như vậy họ sẽ luôn tỉnh táo, tỉnh thức trong cuộc sống hiện tại và họ có thể học hỏi để phát triển kiến thức, sự hiểu biết và trí huệ. Đây là sự lợi ích tiến thân của kiếp nhân sinh.
Kết luận
         Đức Phật dạy 5 giới là nền tảng căn bản đạo đức của nhân sinh nhân loại. Nó lợi ích cho nhân sinh nhiều điều:
- 5 giới này giúp cho nhân sinh ngưng sát sanh, ngưng gian tham trộm cướp. Nếu họ ngưng làm ác, ngưng làm tội, có nghĩa là không cần ai xin tội hay chuộc tội cho họ.
- 5 giới này giúp cho nhân sinh hiện đời không bị ông tòa án xử tội hay bị giam tù.
- 5 giới này giúp cho nhân sinh không đọa lạc trong ba đường ác. Đó là địa ngục, ngạ quỹ và súc sanh.
- 5 giới này giúp cho nhân sinh kiếp sau sanh lại làm người đạo đức trong cõi người.
- Nhân sinh áp dụng 5 giới này vào ngoại giao thế giới, thì thế giới không chiến tranh, không bạo động, không xung đột, không quân đội, không mua bán vũ khí nữa, nhân sinh sẽ sống trong hòa bình và tình thương yêu.
- Nhân sinh áp dụng 5 giới này vào trong trường học và trong đời sống xã hội, thì xã hội không có trộm cướp,  không cảnh sát, không tòa án, không luật sư, không nhà tù, không nhà bank, không đóng cửa, không giữ của, v.v… xã hội an ninh, đất nước thanh bình.
- Nhân sinh áp dụng 5 giới này vào trong đời sống gia đình, thì gia đình chung thủy, hạnh phúc.
- Nhân sinh áp dụng 5 giới này hằng ngày, thì mọi người sẽ nói chuyện với nhau chân thật, lễ độ, có tư cách đạo đức và sẽ sống với nhau hòa hợp trong cộng đồng xã hội.
Tóm lại: nhân sinh áp dụng lời dạy của đức Phật như vậy, thì đây là sự cầu nguyện cho thế giới hòa bình, nhân sinh an lạc rất thiết thực và hữu hiệu. 
  1. Tu Tứ Ân:
          Đức Phật dạy: “Con người đạo đức phải biết tri ân và báo đền bốn ân lớn”. Đó là 1. Ân cha mẹ; 2. Ân quốc gia; 3. Ân thầy giáo và thiện hữu trí thức; 4. Ân Tam Bảo.
         3.1 Tri ân cha mẹ:
Các vị Tổ dạy: “Từ phàm phu cho đến Thánh Hiền, ví không cha mẹ sao nên thân người”. Do đó, con người phải biết thân nầy do cha mẹ sanh ra và nuôi lớn khôn. Bạn phải tri ân và báo đền ân sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Đây là hiếu đạo, là căn bản đạo đức con người. Nếu bạn là người bất hiếu, thì sao bạn làm Thánh được.
Trong lịch sử Phật giáo, khi vua Tịnh Phạn băng hà, Đức Phật trở về kinh thành Ca Tỳ La Vệ để khiêng quan tài để thể hiện sự tri ân sinh thành dưỡng dục của vua cha.
          Trong Kinh Địa Tạng, Ngài A Nan có kể Đức Phật Thích Ca đã lên cung trời Đao Lợi (Trời Đao Lợi là từng trời thứ hai của 6 cõi trời dục giới) để tìm mẹ của Ngài là bà hoàng hậu Maya. Mục đích là Ngài muốn thuyết Kinh Địa Tạng cho mẹ của ngài và các chư thiên ở đó. Vì Ngài muốn Bà Maya giác ngộ tu hành như Bồ Tát Địa Tạng. Đây là sự báo ân của Ngài đối với mẫu thân.
          Trong Kinh Địa Tạng, Đức Phật kể về tiền thân của Ngài Địa Tạng Bồ Tát. Ngài Địa Tạng trong quá khứ lâu xa đã từng là con gái hiếu thảo. Người con gái nầy đã vì cứu mẹ mà phát tâm Bồ Đề tu hành. Trải qua nhiều kiếp, Ngài đã cứu mẹ và chúng sinh. Vì vậy, Ngài đã chứng thành Bồ Tát Địa Tạng. Đức Phật dạy: “Tâm hiếu là tâm Phật; Hạnh hiếu là hạnh Phật” Hành giả muốn tu Phật đạo thì không thể quên ân sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.
3.2 Tri ân tổ quốc và các thí chủ:
          Bạn phải biết tri ân người giữ gìn tổ quốc được thanh bình và các thí chủ đã xây dựng mọi thứ phương tiện trong xã hội để cho bạn hưởng lợi như những người nông dân trồng trọt lương thực cho bạn ăn, thợ may dệt áo quần cho bạn mặc, công nhân xây dựng bệnh viện, trường học, nhà cửa cho bạn ở, .v.v.
3.3 Tri ân thầy và thiện hữu trí thức:
          Bạn học từ mẫu giáo lên đến đại học, thì bạn đã được dạy dỗ với biết bao thầy cô giáo. Họ đã hướng dẫn bạn kiến thức phổ thông, hướng thiện và hướng đến hạnh phúc. Đây là ân giáo dục. Nhất là các hành giả phải tri ân và báo ân Thầy Tổ và những người thiện hữu trí thức, các Ngài đã dìu dắt chúng ta trên con đường Thánh đạo. Quý Thầy thường dạy: “Người sanh ta ở đời là cha mẹ; Người sanh ta trong đạo là Thầy Tổ” Vậy, hành giả tu Thánh đạo phải biết tri ân, báo ân và kính trên nhường dưới.
3.4 Tri ân Tam Bảo:
          Bạn nhờ Tam Bảo mới biết cái gì đúng và cái gì sai; cái gì chánh và cái gì tà; Đặc biệt là hiểu biết về chân lý. Đây là điều mà con người phải tri ân và báo ân. Tri ân và báo ân là nền tảng tu đạo đức con người. Kế tiếp, hành giả phải tu Thiên đạo.

 II. TU THIÊN ĐẠO
         Nếu bạn muốn kiếp sau bạn sanh lên cõi trời dục giới, thì bạn phải tu giữ 10 giới như:
*Thân có 3 giới như 1) Không sát sanh, 2) Không trộm cướp, 3) Không tà dâm.
*Khẩu có 4 giới như 1) Không nói dối, 2) Không nói lưỡi đôi chiều, 3) Không nói lời hung ác, 4) Không nói ỷ ngữ.
*Ý có 3 giới như 1) Không tham lam, 2) Không sân hận, 3) Không si mê.

 III. TU THÁNH ĐẠO
          Trong đạo Phật, Thánh còn gọi là Thánh Thanh Văn, là những bậc xuất thế, không còn luân hồi nữa. Vì họ đã đạt được Niết Bàn.
* Định nghĩa: Niết bàn là gì?
         Niết bàn là vô sanh, tịch tịnh. Vô sanh là không còn sanh tử luân hồi. Tịch tịnh là trạng thái thanh tịnh của chân tâm. Niết bàn là quả chứng của bậc A La Hán.
         Con người sanh ra, lớn lên, rồi già bệnh và chết. Sau khi chết đi, con người phải luân hồi vô số kiếp. Cõi người, cõi trời đều năm trong lục đạo luân hồi. Vì thế, Đức Phật mới dạy cho nhân sinh tu tập con đường thoát ly sanh tử luân hồi hay còn gọi là con đường xuất thế. Muốn được như vậy, con người phải tu tập chứng quả A La hán. Những vị A La Hán đã đạt định và sống trong đại định hay còn gọi là Niết Bàn. Cho nên, các Ngài là bậc xuất thế.
  1. Thế nào là một vị Thánh A La Hán?
Đối với căn bản đạo đức con người:
- Thánh hay đấng Thiêng Liêng không giết người và vật. Kẻ giết người sẽ đọa địa ngục, nhưng nếu bạn giết họ, thì bạn cũng xuống địa ngục luôn. Huống chi, Thánh sao giết người được hoặc ra đạo luật được giết.
- Thánh không trộm cướp.
- Thánh không tham ái, không hành dâm với ai hay nói cách khác là Thánh hoàn toàn đoạn ái dục.
         - Thánh không nói dối, không nói ác khẩu, không nói lưỡi đôi chiều.
- Thánh không uống rượu, không dùng các chất say và cờ bạc.
- Thánh không vi phạm luật pháp quốc gia.
Đối với tâm ý:
- Thánh là người không phiền não, không khổ đau.
- Thánh là người không tham lam, không sân hận, không si mê, không thương, không ghét, không ích kỷ, không ganh tỵ, không gian dối, không bỏn xẻn, không kiêu căng .v.v.
- Thánh là người giác ngộ chân lý. Chân lý là sự thật của cuộc đời và sự thật chân tâm.
- Thánh là người tâm hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh. Bởi vì, Họ tu tập thiền định và Họ luôn sống trong đại định.
- Thánh là người xuất thế, là bậc vô sanh. Vô sanh nghĩa là họ không còn sanh tử luân hồi nữa. Họ muốn sống hay chết tùy ý.
- Thánh là người trí huệ. Họ có khả năng diệt được phiền não, khổ đau, tham lam, sân hận, si mê, .v.v. của chính mình. Nói chung là diệt được vô minh.
- Thánh là người đã đạt được Niết Bàn (Niết bàn là trạng thái thanh tịnh của chân tâm).
- Những hành giả chứng quả bậc Thánh đều có lục thông như: 1) Thiên nhãn thông (mắt thấy thông suốt), 2) Thiên nhĩ thông (tai nghe thông suốt), 3) Thần túc thông (thân biến hiện tùy ý), 4) Túc mạng thông (biết thông suốt chuyện quá khứ), 5) Tha tâm thông (Thông suốt tâm ý người khác), 6) Lậu tận thông ( trí huệ thông suốt diệt sạch vô minh).
  1. Có mấy bậc Thánh Thanh Văn?
Bậc Thánh Thanh Văn gồm có 4 bậc: 1) Tu Đà Hoàn; 2) Tư Đà Hàm; 3) A Na Hàm; 4) A La Hán.
  1. Thánh Thanh Văn tu nhân gì?
Những bậc Thánh Thanh Văn tu tập pháp môn Tam Vô Lậu Học: Tu giới, tu định và tu huệ.
*Tu giới là đoạn trừ tất cả điều ác, dứt trừ nghiệp nhân sanh tử luân hồi.
*Tu định là thanh tịnh hóa tâm.
* Tu huệ là diệt trừ phiền não, khổ đau, tham, sân, si, vô minh, .v.v.
 
IV. TU BỒ TÁT ĐẠO
Thế nào là bậc Bồ Tát?
- Bồ Tát nghĩa là Bồ Đề Tát Đỏa. Bồ Đề là giác ngộ, đại đạo tâm; Tát Đỏa là chúng sanh hữu tình. Chúng sanh hữu tình phát đại đạo tâm là Bồ Đề Tát Đỏa, gọi tắt là Bồ Tát.
- Bồ Tát và Thánh Thanh Văn đều là những bậc giác ngộ chân lý, đạt được Niết Bàn, giải thoát sanh tử luân hồi, .v.v. như nhau. Tuy nhiên, các vị Thánh Thanh Văn đi theo con đường xuất thế, ra khỏi luân hồi, không muốn trở lại Tà Bà nữa. Còn Bồ Tát đã là bậc xuất thế rồi, nhưng Đức Phật dạy Bồ Tát phải phát nguyện đại bi tâm nhập thế, xuống cõi Ta Bà thực hành Bồ Tát đạo hóa độ chúng sanh. Vậy mới là Bồ Tát.
* Có mấy bậc Bồ Tát?
Bồ Tát có 52 quả vị: Thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác và diệu giác. Tại sao có nhiều quả vị như vậy? Vì các bậc Bồ Tát trí huệ, thần thông khác nhau.
* Bồ Tát tu nhân gì?
         Bồ Tát tu nhân 1. Phát Bồ Đề tâm, 2. Tu bồ đề tâm, 3. Thực hành bồ đề tâm.

 
  1. Phát tâm Bồ Đề:
         Phát Bồ Đề Tâm là phát đại bi tâm thành Phật độ tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới.
Bồ đề là giác ngộ. Phát tâm bồ đề là phát tâm cầu thành Phật độ hết chúng sanh trong mười phương pháp giới. Chư Phật, chư Bồ Tát nào trong quá khứ cũng đều phát đại bi tâm, nguyện thành Phật độ cho hết thảy chúng sanh muôn loài trong mười phương pháp giới. Vì tâm từ bi của đức Phật bao la, nên bao trùm chúng sanh cả khắp pháp giới. Do đó, chúng ta mới nói rằng Phật đạo là đạo từ bi.
         Chúng ta thường ngày hành xử và sống với tâm niệm tham, sân, si, giận, hờn, thương, ghét, ích kỷ, ganh tỵ, .v.v. Những tâm niệm nầy là vọng tưởng, vọng tâm; vọng tâm là không thật, là điên đảo, là phiền não, là khổ đau. Tâm thanh tịnh, tâm từ bi mới là chân tâm, vì nó đã có sẳn trong tâm của chúng sanh. Nhưng chúng sanh không chịu sống với nó, bỏ rơi nó. Đạo Phật còn gọi là đạo khai tâm. Cho nên, chư Phật dạy chúng sanh phát đại bi tâm để giúp chúng sanh mở tâm từ bi ra để diệt đi vọng tâm tham, sân, si, ích kỷ, ganh tỵ, .v.v.
Tất cả mọi người đều có tâm từ bi, nhưng vì chúng ta không biết khai triển và mở rộng nó ra. Nó không đâu xa; nó đang ngự trong ta. Chúng ta mở tâm từ bi của mình ra không có tội, không có giảm thọ, không có khổ và không có tốn tiền gì cả. Vậy tại sao chúng ta không chịu mở tâm từ bi của chúng ta ra? Vậy, chúng ta còn chờ gì nữa? Tâm từ bi nầy mới chính là tâm thật của chúng ta. Nay, chúng ta hãy mở rộng tâm từ bi của chúng ta qua sự phát tâm nói trên. Được như vậy, Phật chính là chúng ta, chúng ta chính là Phật!
         Chư Phật, Chư Bồ Tát đều phát tâm Bồ Đề, nhờ nhân Bồ Đề này mà ngày nay các Ngài đã thành tựu quả Bồ Đề.
         Trong Kinh Vô Lượng Thọ, tiền thân Phật A Di Đà là vị Tỳ Kheo Pháp Tạng. Ngài đã phát tâm Bồ Đề qua 48 lời nguyện độ tất cả chúng sanh. Nhờ 48 lời nguyện này mà ngày nay Ngài Tỳ Kheo Pháp Tạng thành Phật hiệu A Di Đà. Ngài đang hoằng pháp độ chúng sanh ở Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc. Trong 48 lời nguyện có nguyện thứ 18 là tiếp dẫn chúng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Vì thế, Phật tử tụng Kinh Di Đà để cầu siêu.
Trong Kinh Dược Sư, Đức Phật Dược Sư phát tâm Bồ Đề qua 12 lời nguyện độ sanh. Cho nên, Phật tử tụng Kinh Dược Sư để cầu an.
          Trong Kinh Phổ Môn, Đức Quan Âm phát 12 lời nguyện độ sanh. Do đó, Phật tử tụng Kinh nầy để cầu an.
Trong Kinh Địa Tạng, Đức Địa Tạng phát tâm Bồ Đề: “Địa ngục nếu còn, thệ không thành Phật; Chúng sanh độ hết mới chứng Bồ Đề”. Bởi vậy, Phật tử tụng Kinh Địa Tạng để cầu siêu.
          Vậy, chúng ta tụng Kinh là để học sự phát tâm Bồ Đề của quý Ngài. Nếu chúng ta đều phát tâm Bồ Tát và hành tâm Bồ Tát, thì chúng ta là Bồ Tát. Có như vậy mới đúng ý nghĩa tụng Kinh. Chúng ta nguyện như thế nào?
Con nguyện thành Phật độ tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới. hoặc
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
 
  1. tu tâm Bồ Đề
Bước 1 là hành giả phát tâm Bồ Đề, kế tiếp là tu tập tâm Bồ Đề. Ví dụ như có người muốn thành ông Bác sĩ. Trước họ đã khởi ý muốn rồi, kế tiếp họ phải thực hành ý muốn đó, bằng cách là họ phải học và thực tập kiến thức y khoa. Nhờ vậy, họ mới có thể thành Bác sĩ trong tương lai. Do đó, Đức Phật dạy các hành giả đã phát tâm Bồ Đề rồi cũng chưa đủ, hành giả phải tu tâm Bồ Đề thì mới thành tựu quả Bồ Đề. Hành giả tu tâm Bồ Đề qua lục độ Ba La Mật - Paramita. Ba La Mật được dịch là qua bên kia bờ giác ngộ, nghĩa là chúng sanh đang ở bờ mê; Chúng sanh phải tu tập sáu pháp Ba La Mật thì mới sang bờ giác ngộ được.Lục độ Ba La mật gồm: 1) Bố thí; 2) Trì giới; 3) Nhẫn nhục; 4) Tinh tấn; 5) Thiền định; 6) Trí huệ.
 
2.1. Tu tập bố thí Ba La Mật:
a) Lợi ích bố thí:
Bố thí của phàm phu:
          Ở đời, chúng ta thấy những người giàu sang, người thông minh, người có sức khỏe, xinh đẹp, sống được trường thọ, có học vị cao, có địa vị và có danh thơm trong xã hội, .v.v. những thành tựu của họ đều do phước báo. Phước báo là do pháp bố thí. Do đó, những thiện nhân thường hành pháp bố thí để cầu phước báo. Đây là bố thí phàm phu.
Bố thí của Bồ Tát:
          Những hành giả tu hạnh pháp bố thí của Bồ Tát mục đích là 1) Diệt tâm tham lam lợi dưỡng, dục lạc thế gian. 2) Hành giả thực hành bố thí là để lợi ích chúng sanh. 3) Tăng trưởng thiện căn và phước báo. Đây là bố thí của Bồ Tát.
b) Phương pháp bố thí:
          Pháp bố thí gồm tài thí, pháp thí và vô úy thí.
* Tài thí gồm nội tài và ngoại tài. Nội tài là bố thí công sức của mình; ngoại tài là bố thí tiền tài và vật chất, .v.v.
* Pháp thí là bố thí những lời Phật pháp khuyên răn cho người hướng thiện, hướng thượng hoặc hướng dẫn những pháp môn tu tập thoát ly sanh tử luân hồi.
* Vô úy thí là những lời động viên cho người vượt qua những sự sợ hãi, buồn phiền, nhất là an tâm cho người khi lâm chung.
c) Bồ Tát tu tập phương pháp bố thí Ba La Mật như thế nào?
          Hành giả trước và sau phải quán buông xả phương pháp bố thí để không chấp ngã.Như vậy, hành giả mới thanh tịnh và giải thoát phiền não khổ đau.Đây gọi là bố thí Ba La Mật.
* Hành giả buông xả không thấy mình bố thí.
* Hành giả buông xả không thấy vật bố thí.
* Hành giả buông xả không thấy người được thí.
 
2. Tu tập trì giới Ba La Mật:
2.1. Lợi ích trì giới:
         Đức Phật dạy nhân sinh trì giới là giúp cho thân ngưng tạo nghiệp ác. Ví dụ như giới không sát sanh. Hành giả không sát sanh, thì không chính quyền nào bắt họ cả.
2.2. Các loại giới luật:
*Giới luật Phật tử tại gia gồm có 4 loại giới như: 1) 5 giới Phật tử tại gia, 2) 8 giới Bát Quan Trai, 3) 10 thiện giới và 4) 6 giới trọng và 28 giới khinh của Bồ Tát giới tại gia.
*Giới Phật tử xuất gia gồm có loại 6 như: 1) Giới Sa Di, 2) Giới Sa Di Ni, 3) Giới Thức Xoa Ma Na, 4) Giới Tỳ Kheo, 5) Giới Tỳ Kheo Ni và 6) Giới Bồ Tát.
2.3. Tu tập trì giới của Bồ Tát như thế nào?
         Hành giả trước và sau phải quán buông xả pháp trì giới để không chấp ngã. Như vậy, hành giả mới thanh tịnh và giải thoát phiền não khổ đau. Đây gọi là trì giới Ba La Mật.
* Hành giả buông xả không thấy mình trì giới.
* Hành giả buông xả không pháp trì giới.
* Hành giả buông xả không thấy người khác không trì giới.

 3. Tu tập nhẫn nhục:
3.1. Lợi ích nhẫn nhục:
         Nhẫn nhục là diệt trừ sự sân hận và trưởng dưỡng tâm thanh tịnh và từ bi.
3.2. Tu tập nhẫn nhục của Bồ Tát như thế nào?
         Nhẫn nhục không có nghĩa là ai nói đúng sai hay làm đúng sai đều nhẫn nhục. Điều nầy không phải như vậy. Nhẫn nhục là nhẫn nhịn với tâm sân hận của chính mình. Vì tâm sân hận là tâm tà, không thật chân tâm, không phải là tâm từ bi, trí huệ. Khi hành giả nổi sân hận, thì hành giả phải nhẫn nhịn và diệt tâm sân hận đi. Có như vậy, hành giả mới nuôi dưỡng và phát triển lòng từ bi, trí huệ cứu độ chúng sanh. Sau khi, hành giả bình tâm của mình rồi, thì hành giả có thể giác ngộ đối phương.
         Hành giả trước và sau phải quán buông xả pháp nhẫn nhục để không chấp ngã. Như vậy, hành giả mới thanh tịnh và giải thoát phiền não khổ đau. Đây gọi là nhẫn nhục Ba La Mật.
* Hành giả buông xả không thấy mình nhẫn nhục.
* Hành giả buông xả không pháp nhẫn nhục.
* Hành giả buông xả không thấy người khác được nhẫn nhục.

4. Tu tập tinh tấn Ba La Mật: 
4.1. Lợi ích tinh tấn:
         Tinh tấn là diệt tâm lười biếng, buông thả. Như chúng ta đã biết không ai lười biếng học và thực hành mà họ thành Bác sĩ, nha sĩ, tiến sĩ, thạc sĩ; Không ai làm biếng học mà họ thành giáo sư hay bác học. Do đó, không ai làm biếng học và tu tập mà họ thành Thánh, thành Bồ Tát và thành Phật. Vì thế, hành giả phải luôn tinh tấn như cứu lửa cháy đầu.
 
4.2. Tu tập tinh tấn Ba La Mật của Bồ Tát như thế nào?
         Hành giả trước và sau phải quán buông xả pháp tinh tấn để không chấp ngã. Như vậy, hành giả mới thanh tịnh và giải thoát phiền não khổ đau. Đây gọi là tinh tấn Ba La Mật.
* Hành giả buông xả không thấy mình tinh tấn.
* Hành giả buông xả không pháp tinh tấn.
* Hành giả buông xả không thấy người khác lười biếng. 
 
5. Tu tập thiền định Ba La Mật:             
          Con người sinh ra và lớn lên phải lo học một cái nghề để kiếm tiền lo cho đời sống vật chất. Rồi họ lo xây dựng hạnh phúc gia đình, Có người lo buôn bán, kinh doanh, có người lo văn hóa, chính trị xã hội, có người lo tranh giành địa vị danh vọng, có người lo chiến tranh, có người cướp giựt, .v.v. Hằng ngày, con người sống với vọng tưởng tham, sân si, thất tình, lục dục, .v.v. Đó cũng là lý do con người bất an, không hạnh phúc và đã dẫn đến xung đột trong gia đình và trong xã hội; Vọng tưởng cũng đưa đến chiến tranh giặc dã trên khắp thế giới nầy. Vì thế, hành giả tu đạo phải ngừng ngay các vọng tưởng điên đảo nầy. Bằng cách nào mới có thể tạm dừng được các vọng tưởng nói trên, hành giả phải chuyên tập thiền chỉ. Thiền chỉ năng sinh định. Định có nhiều bậc như định ở cõi trời sắc giới và định ở cõi trời vô sắc giới.
 
* Định ở cõi trời sắc giới:
         Sắc là sắc thân, thân tướng. Sắc giới là cõi trời có thân tướng, nhưng không có nam nữ. Bởi vì, những người nầy đã lìa sự ham muốn ái dục và dâm dục của con người. Họ chỉ lo an vui trong thiền định.
Sắc giới gồm có 4 giai đoạn tu thiền của phàm phu, đi dần từ chỗ nhàm chán cái vui thô thiển đến cái vui vi tế thanh tịnh như: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.
 
Sơ thiền (Ly sanh hỷ lạc):
         Hành giả khởi đầu bằng tâm lý nhàm chán, xa lìa cái ô trược ái dục và dâm dục của cõi dục. Sau khi nhờ tham thiền mà xa lìa được cái ô trược của dục giới, hành giả sanh vui mừng (sanh hỷ lạc). Đó là kết quả tham thiền đầu tiên (sơ thiền).
* Sơ thiền gồm có 3 cõi trời như: trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, trời Đại Phạm.
 
Nhị thiền (Định sanh hỷ lạc):
         Những cái vui mừng nói trên, lại làm cho tâm chao động, cần phải dứt trừ; vì thế hành giả phải vào định. Khi định đã có kết quả, các vui mừng thô phù của sơ thiền chấm dứt và cái vui mừng vi tế ở trong định lại nẩy sanh; vì thế cho nên gọi là định sanh hỷ lạc.
* Nhị Thiền gồm có 3 cõi trời như: Trời Thiểu Quang, Trời Vô Lượng Quang, Trời Quang Âm.
 
Tam Thiền (Ly hỷ diệu lạc):
         Cái vui mừng của nhị thiền mặc dù vi tế, nhưng vẫn còn làm cho tâm rung động. Vì thế, hành giả cần phải loại bỏ cái vui mừng ở Nhị thiền. Khi bỏ được cái vui mừng nầy, thì một nỗi vui mầu nhiệm khác lại phát sanh. Vì thế cho nên gọi là Ly hỷ diệu lạc.
Tam Thiền gồm có 3 cõi trời: trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh.
Trong các kinh thường chép: cõi Tam thiền thì vui hơn hết (diệu lạc). Vì các cõi dưới thì chỉ có cái vui thô động, còn ở các cõi trên thì chỉ là tịch tịnh, không còn vui nữa.

Tứ Thiền (Xả niệm thanh tịnh):
         Ở cõi Tam thiền, tuy đã hết cái vui thô động của sơ thiền và nhị thiền; nhưng vẫn còn cái vui mầu nhiệm. Nhưng hễ còn niềm vui, thì tâm chưa hoàn toàn thanh tịnh. Hành giả lại còn phải tiến lên một bậc nữa, đi vào cái thiền thứ tư xả luôn cái niệm vui, để tâm được hoàn toàn thanh tịnh, vì thế nên gọi là xả niệm thanh tịnh.
Tứ Thiền gồm có 9 cõi trời như: Trời Vô Vân, Trời Phước Sanh, Trời Quảng Quả, Trời Vô Tưởng, Trời Vô Phiền, Trời Vô Nhiệt, Trời Thiện Kiến, Trời Thiện Hiện, Trời Sắc Cứu Cánh.

* Định ở cõi trời vô sắc giới (Tứ không định):
         Người ở cõi này không có thân, chỉ có tâm thức. Sau khi đã trải qua Tứ Thiền và đã thành tựu viên mãn, hành giả tiếp tục tu thiền định và sẽ trải qua bốn giai đoạn gọi là tứ không định sau đây. Sở dĩ gọi là tứ không, vì khi vào bốn định nầy, thiền giả sẽ không còn thấy có cảnh hay vọng tâm nữa.
Không Vô Biến Xứ Định:
Thiền giả khi đã đạt được Tứ Thiền, tâm đã được hoàn toàn thanh tịnh, nhưng vẫn còn có thấy sắc giới, còn thân, còn cảnh và bị hình sắc trói buộc, nên sanh tâm nhàm chán. Để rời bỏ các hình sắc về thân và cảnh, thiền giả vào định thứ nhất của Tứ Không, thể nhập với hư không vô biên, tức là không thấy có ngăn cách, có biên giới của cảnh.
Thức Vô Biên Xứ Định:
Thiền giả khi đã được định thứ nhất của Tứ Không, rời bỏ được sắc tướng của thân và cảnh, thấy được cái vô biên của hư không, nhưng vẫn còn giữ cái bản ngã hẹp hòi, vẫn còn thấy biên giới của tâm thức. Vậy thiền giả phải vào định thứ hai của tứ thiền, để xóa bỏ cái biên giới của thức; khi thành tựu, tức thể nhập được vào cõi Thức Vô Biên.
Vô Sở Hữu Xứ Định:
         Thiền giả mặc dù không còn thấy biên giới, ngăn cách của thức, nhưng vẫn còn thấy có ngã, có tâm thức, có năng sở, mà hễ còn thấy có năng sở, tức còn thấy mình và người, còn thấy có sở hữu. Vậy, thiền giả phải vượt lên một tầng nữa, xa lìa sự chao động, năng sở, tức nhập định Vô Sở Hữu Xứ (cõi không sở hữu).
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định:
Thiền giả khi đã nhập định Vô Sở Hữu, không còn thấy nhân ngã, năng sở, nhưng vẫn còn tưởng, mà còn tưởng thì còn vọng động. Vậy, thiền giả phải tiến lên một tầng nữa, vào cõi định không tưởng. Nhưng không tưởng đây, không có nghĩa là vô tri, vô giác như đất đá. Không tưởng, nhưng không phải không tưởng của đất đá, không tưởng mà vẫn sáng suốt như một tấm gương, chứ không phải là một tấm ván hay mặt đá. Đó là ý nghĩa của cõi tịnh Phi Tưởng Phi Phi Tưởng.
Pháp môn thiền định – Samatha meditation:
Thiền định hay còn gọi là thiền chỉ. Thiền nói cho dễ hiểu là xem xét. Chỉ nghĩa là dừng lại. Thiền chỉ là nhân.Định là quả.Vậy, tu tập thiền chỉ năng sinh định lực.Thiền chỉ thường áp dụng pháp đếm hơi thở hay còn gọi là quán sổ tức.
 
Lợi ích thiền định:
Trước khi tu tập thiền chỉ, hành giả phải biết mục đích của sự gia công tu tập thiền để làm gì?Nếu bạn không biết được mục đích, thì sự tu tập của bạn không lý tưởng lắm. Do đó, bạn nên hiểu biết sự lợi ích của thiền chỉ như sau:
  • Bớt suy nghĩ
  • Bớt lo lắng.
  • Bớt căng thẳng
  • Thăng bằng thân và tâm,
  • Phục hồi trí nhớ
  • Diệt loạn tâm
  • Đạt định
  • Đạt chánh niệm
  • Tâm được thanh tịnh và an lạc.
Tu tập thiền định Ba La Mật của Bồ Tát như thế nào?
Hành giả trước và sau phải quán buông xả pháp thiền định để không chấp ngã.Như vậy, hành giả mới thanh tịnh và giải thoát phiền não khổ đau.Đây gọi là thiền định Ba La Mật.
* Hành giả buông xả không thấy mình thiền định.
* Hành giả buông xả không pháp thiền định.
* Hành giả buông xả không thấy người khác không thiền định.
 
Phương pháp tu tập thiền chỉ – quán sổ tức:
Chúng ta thực hành thiền chỉ để diệt loạn tâm và định tâm. Cho nên, chúng ta phải chuẩn bị tâm lý trước khi hành thiền. Chúng ta không suy nghĩ đến sinh hoạt gia đình, công việc làm ăn, việc xã hội, việc thiên tai bão lụt, việc chiến tranh giặc giả, .v.v. Tại sao? Nếu bạn nghĩ đến những chuyện này, thì tâm sẽ loạn thêm, làm sao định tâm được. Khi đếm hơi thở, chúng ta cũng không nghĩ đến thân, mà chỉ nghĩ đến tâm thôi. Có như vậy, chúng ta mới định tâm được một phần nào.
Cách ngồi thiền đếm hơi thở - quán sổ tức gồm có 3 phần như 1.Tư thế ngồi, 2.Thực hành thiền, 3.Xả thiền. 
  1. Tư thế ngồi thiền:
Bạn ngồi được trên đất thì tiện hơn, vì nó giúp cho bạn dễ tập trung hơn.Người già có thể ngồi trên ghế.Khi ngồi trên đất, nên ngồi trên bồ đoàn hay cái gối ngồi thiền cao ít nhất 10 cm hoặc hơn tùy vào chiều cao của bạn. Bạn có thể ngồi kiết già, bán già hoặc ngồi xếp bằng, .v.v.
* Ngồi kiết già là chân trái để lên đùi phải và chân phải để lên đùi trái, sao cho hai đầu gối chống xuống đất, thì lưng dễ thẳng hơn;
* Ngồi bán già là chỉ một chân trái để lên đùi phải hoặc chân phải để lên đùi trái, sao cho hai đầu gối chống xuống đất làm cho lưng thẳng.
* Ngồi xếp bằng là xếp chân trái vào trong, rồi xếp chân phải vào kế tiếp, sao cho thoải mái là được.
       Thứ nhất là ổn định cách ngồi, thứ hai là phải thẳng lưng, thứ ba thẳng cổ, thứ tư mắt nhìn xuống sống mũi, thả lỏng, thứ năm uốn lưỡi để lên hàm răng trên, thứ sáu lưng quần không thắt chật bụng của mình, thứ bảy tay phải để lên tay trái và toàn thân thả lỏng. Trong lúc ngồi thiền, chúng ta có thể để tâm tại nhân trung.Nhân trung là trước đầu lỗ mũi hoặc trước ngực. 
  1. Thực hành thiền:
         Hít vào sâu bằng mũi, đưa khí xuống đan điền  (ở bụng), thở ra từ từ bằng miệng. (3 lần)
Kế tiếp để hơi thở ra vào tự nhiên qua lổ mũi, không cần phải cố hít vào, thở ra. Chỉ cần theo dõi hơi thở ra vào mà thôi. Hơi thở vào, rồi hơi thở ra đếm thầm một; hơi thở vào, rồi hơi thở ra đếm thầm hai và đếm đến mười, sau đó bắt đầu đếm lại từ một đến mười.
Chúng ta có thể ngồi 15 phút hoặc 30 phút tùy ý. Tốt nhất cài đặt đồng hồ reo 15 hay 30 phút theo ý của mình để khi ngồi không còn nghĩ đến thời gian. 
  1. Xả thiền:
Hít vào sâu bằng mũi, đưa khí xuống đan điền (ở bụng), thở ra từ từ bằng miệng. (3 lần)
Xoa hai tay cho ấm, mát xoa mắt, mũi, mặt, trán, đầu, lỗ tai, ót, cổ.
Xoay hai vai vòng tròn từ ngoài vào trong, kết hợp hơi thở, làm 5 lần và xoay ngược lại. Tay trái bóp cánh tay phải từ trong ra và đổi bên.
Mát xoa lưng và thận. Bóp hai bàn tay lại, sau đó đưa ra sau, đấm vào thận. Thận nằm đối diện với cái rún phía sau.
         Duỗi hai chân ra và bóp từ trong ra ngoài, sao cho giãn gân cốt, rồi đứng dậy.

6. Tu tập trí huệ Ba La Mật:                                                     
6.1. Lợi ích trí huệ:
Trí huệ là cứu cánh của Chư Phật và Chư Bồ Tát. Trí huệ mới diệt trừ cái khổ của tham, sân, si; cái khổ của luân hồi, nói chung là kiến hoặc, tư hoặc, vô minh hoặc, trần sa hoặc.
 
6.2. Pháp tu trí huệ:
Pháp tu trí huệ là những phương pháp thiền quán – Vipassana Meditation. Thiền quán là nhân. Trí huệ là quả.  Tại sao Đức Phật không nói tu thiền quán mà nói tu trí huệ? Bởi vì, Đức Phật muốn dạy cho hành giả nhắm vào mục đích cứu cánh là đắc định và đắc huệ. Pháp tu thiền quán có nhiều phương pháp đạt trí huệ. Nhưng pháp tu thiền quán là phương tiện, chứ không phải là cứu cánh hay cái quả mà Đức Phật muốn nhắm đến. Do đó, Đức Phật dạy phải đắc định và huệ.
Hành giả muốn đạt được trí huệ thì phải tu tập các phương pháp thiền quán như:
* Quán thân bất tịnh: Quán tâm bất tịnh là diệt tâm tham ái dục. Vì ái dục là gốc sanh tử luân hồi.
* Quán tâm vô thường: Quán tâm vô thường là nhận ra vọng tâm và chân tâm. Phương pháp nầy giúp hành giả tự hồi quang phản chiếu về chính mình.
* Quán thọ thị khổ: Quán thọ thị khổ để lìa cảm giác khổ lạc.
* Quán pháp vô ngã: Quán pháp vô ngã để hiểu giả tướng của các pháp để không tham đắm vào cảnh bên ngoài.
* Quán nhân duyên: Quán nhân duyên để tìm hiểu sự hình thành của các pháp.
* Quán từ bi: Quán từ bi diệt tâm sân hận.
* Quán ngũ uẩn đều không: Quán ngũ uẩn đều không để phá chấp ngã (Cái ta).
Các pháp như là viên thuốc chữa bệnh cho chúng sanh. Người đau bụng thì uống thuốc đau bụng; người đau đầu thì uống thuốc đau đầu. Tương tự như vậy, hành giả tu tập thiền quán tùy thuộc vào căn bệnh của mình.
 
6.3. Tu tập trí huệ Ba La Mật của Bồ Tát như thế nào?
Hành giả trước và sau phải quán buông xả pháp thiền quán để không chấp ngã. Như vậy, hành giả mới thanh tịnh và giải thoát phiền não khổ đau. Đây gọi là thiền quán Ba La Mật.
* Hành giả buông xả không thấy mình thiền quán.
* Hành giả buông xả không thấy pháp thiền quán.
* Hành giả buông xả không thấy mình là bậc trí huệ.
 
6.4. Thực hành thiền quán
         Như đã nói trên, Đức Phật Thích Ca dạy nhiều phương pháp thiền quán để đạt đến cứu cánh trí huệ. Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến bốn phương pháp thiền quán qua Kinh Tứ Niệm Xứ trong Kinh Trung Bộ.
 
QUÁN THÂN BẤT TỊNH
 
Description: Nhiều người tu theo đạo Phật, muốn giác ngộ giải thoát, để chấm dứt phiền muộn khổ đau nhưng lại không chịu từ bỏ tình cảm luyến ái dục vọng. Đây là điều hết sức mâu thuẫn, một mặt thì ta tạo thêm tình cảm luyến ái, một mặt thì ta lại muốn chấm dứt khổ đau.
 
Định nghĩa:
Quán thân bất tịnh để trừ tâm ái dục."Bất tịnh" nghĩa là không sạch sẽ, trong lành. Quán bất tịnh tức là quán sát một cách tỉ mỉ, cùng tột thân con người để nhận thấy biết rõ ràng nó là không trong sạch. Mục đích không để phát sinh luyến ái thân nam nữ nữa.
 
Duyên khởi:
         Đức Phật dạy rằng chúng sanh trong sáu cõi dục giới đều phải luân hồi triền miên. Cõi dục giới là thế giới có người nam và người nữ hay còn gọi là giống đực và giống cái. Vì chúng sanh cõi này thích quan hệ tình cảm nam nữ. Sáu cõi dục giới là cõi trời, cõi người, cõi A Tu La, cõi địa ngục, cõi ngạ qủy và cõi súc sanh.Tại sao chúng sanh trong sáu cõi dục giới nầy phải luân hồi?
Trong Kinh Viên Giác và Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Ngài A Nan thường hỏi Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Tại sao chúng sanh bị luân hồi? Đức Phật trả lời: Bỡi vì chúng sanh tham ái và tham quan hệ tình dục, cho nên chúng sanh luân hồi trong cõi dục”. Do đó, chúng ta biết rằng ái dục là gốc sanh tử luân hồi. Chư Tôn Đức thường nói: “Ái bất nhiễm, bất sanh Ta Bà; Niệm bất nhất, bất sanh Tịnh Độ”, nghĩa là hành giả không nhiễm ái, thì hành giả đã không sanh cõi Ta Bà nầy. Vì Ta Bà này là cõi dục giới. Nếu hành giả không nhất tâm bất loạn, thì hành giả cũng không sanh về Tịnh Độ được. Vì hành giả ở cõi Tịnh Độ đều thanh tịnh.
          Đúng như vậy! Chúng ta thấy ở đời, người bị nhiễm hút thuốc, uống rượu, ma túy, đánh đề, đánh bài, cá độ đá banh, .v.v. mà họ không bỏ được. Huống chi, chúng sanh đã nhiễm ái dục rồi, thì chúng sanh không thể nào bỏ được. Khi con người vừa tuổi trưởng thành thì điều đầu tiên các thanh thiếu niên thường nghĩ đến tình yêu nam nữ. Đây là lý do chính để đưa đến lập gia đình. Con người đã từ vô lượng kiếp huân tập tham ái và lập gia đình. Như vậy, chủng tử này đã thành thói quen và mục đích chính của cuộc sống. Đến khi sanh ra và trưởng thành, thì con người nghĩ ngay đến tham ái và tham quan hệ tình dục. Biển sâu bao nhiêu vẫn có đáy, nhưng lòng ham muốn dục lạc của con người thì không có đáy. Tuy nhiên, tình cảm hạnh phúc lứa đôi không được như giấc mơ hoặc không may tan rã và mất đi, thì họ có thể tự tử chết đi. Qua đó, chúng ta thấy tình cảm hạnh phúc lứa đôi là động lực và nguồn sống của nhân sinh.Sắc dục cũng lại như thế, không bao giờ làm cho ta thỏa mãn, càng ân ái thì lòng dục càng tăng trưởng, càng thích thú, càng thèm khát tìm kiếm và cuối cùng không làm chủ được bản thân mà dính vào tội tà dâm, hoặc hiếp dâm. Hậu quả hiện đời là gia đình tan nát, hoặc bị tù tội, giam cầm khổ sở và trong đời sau có thể bị đọa lạc vào các loài súc sinh như chim sẻ, chim bồ câu chẳng hạn để thỏa mãn thú tính.
Các loài động vật không có lý trí như con người, nên chúng nó không biết yêu đương, làm đám hỏi hay đám cưới. Chúng nó muốn quan hệ dâm dục, thì chúng nó có thể quan hệ với bất cứ khác phái, dù đó là cha mẹ hay anh em. Chúng nó chỉ biết giải quyết sinh lý, chứ không biết phân biệt thân bằng quyến thuộc. Vì thế, chúng nó mới làm súc sanh.
Cuộc đời có sanh, ắt có tử hay nói cách khác cuối cùng của cuộc đời là cái chết. Do vì có cái chết nên hành giả mới tu đạo giải thoát luân hồi. Nếu không có cái chết, thì chắc chắn không ai tu đạo cả. Mọi người chỉ biết lo hưởng thụ vật chất và đeo đuổi theo ái dục. Đồng thời, kẻ ác sẽ tiếp tục làm ác và họ sẽ làm bá chủ thiên hạ này. Vì có sanh tử luân hồi, cho nên hành giả muốn tu đạo giải thoát. Hành giả muốn giải thoát luân hồi thì hành giả phải đoạn ái dục. Đoạn được tâm tham ái, thì hành giả mới đắc định, đắc huệ, đạt đến cứu cánh Niết Bàn và chứng quả A La Hán hay nói cách khác chỉ những vị A La Hán mới hết ái dục và chấm dứt luân hồi sanh tử. Đức Phật dạy rằng hành giả thật sự muốn thoát luân hồi khổ thì phải tu tập phương pháp thiền quán thân bất tịnh.Phương pháp này giúp cho hành giả lìa tâm ái dục.
          Đối với tất cả mọi người thì "quán thây ma" như thế chưa phải là phương thuốc mầu nhiệm, để chúng ta nhàm chán cái thể xác của mình và của người khác.Muốn nhàm chán, ghê tởm cái thể xác nhơ nhớp này thì ta phải thấy tận mắt cái "bất tịnh" của nó, từ khi nó bắt đầu thành hình cho đến khi nó bị hủy hoại.
 
a) Quán chủng tử bất tịnh
          Chủng tử là hạt giống, là yếu tố hay nguyên nhân để phát sinh ra thân này. Hạt giống của thân này gồm có hai phần: Phần tinh thần và phần vật chất.
*Phần tinh thần hay còn gọi là thần thức. Thần thức mang tâm niệm tham ái và tham dâm dục, nên nó hòa vào lúc quan hệ giữa người cha và người mẹ. Từ đó, ba yếu tố nầy đưa đến thụ thai.
*Phần vật chất là tinh cha và huyết mẹ. Cả hai là chủng tử bất tịnh. Thần thức này hoà hiệp cùng tinh cha huyết mẹ để được thân tứ đại (Đất, nước, gió, lửa) và có một đời sống giả tạm mới. Trong khi quán, hành giả phải vận dụng, tập trung ý lực mạnh mẽ để tưởng tượng một cách rõ ràng, như thấy trước tất cả hạt giống bất tịnh để mà nhàm chán thân người, dẹp lòng tham đắm luyến ái xác thân này.
 
b) Quán bào thai bất tịnh trong bụng mẹ
          Cái bào thai, không nói, ai cũng biết là một cái bọc chứa đầy máu nhớt hôi tanh, dơ bẩn. Cái bào thai nằm lẫn lộn và lớn dần trong cái bọc bé nhỏ dơ bẩn. Trong bào thai thì cái thai phải nằm co rút lại, đẫm mình trong những chất nước, máu vô cùng tanh hôi và không có được một chút không khí hay ánh sáng mặt trời lọt vào. Cái thai phải sống trong hoàn cảnh ấy không phải chỉ một ngày, một tuần hay một tháng mà phải đến chín tháng mười ngày mới thoát ra được. Vậy quán cái bào thai bất tịnh có nghĩa là vận dụng toàn lực ý niệm để nhận chân một cách rõ ràng như thấy trước mắt cái dơ bẩn, cái bất tịnh của bào thai là chỗ ở nhơ nhớp, hầu dẹp lòng rạo rực ham muốn tham đắm sắc dục.
 
c) Quán hình tướng bất tịnh
          Sau khi đứa bé chào đời, có đầy đủ giác quan để tiếp xúc với ngoại cảnh, có đủ bộ phận cần thiết để điều hòa cuộc sống thể xác của mình. Hành giả quán chiếu hai phần, là 1) Quán thân trong thân, 2) Quán thân trên thân.
* Quán thân trong thân
          Trong thân gồm có những thứ như tóc, lông, răng, móng, da dày, da mỏng, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ chài, mỡ nước, tim, phổi, gan, mật, thận, lá lách, ruột, dạ dày, phân, nước tiểu, máu, óc, màng, đàm đỏ, đàm trắng, sinh tạng, thục tạng. Bên trong toàn là những thứ bất tịnh và tiết ra bên ngoài hằng ngày qua chín lổ trên thân.
* Quán thân trên thân
         Trên thân gồm có chín lỗ bài tiết ra những thứ bất tịnh như sau:
+ Hai lỗ tai tiết ra cứt ráy.
+ Hai khóe mắt tiết ra ghèn và nước mắt.
+ Hai lỗ mũi tiết ra cứt mũi.
+ Lỗ miệng tiết ra nước miếng và đàm.
+ Lỗ tiểu tiện tiết ra nước tiểu hôi khai.
+ Lỗ đại tiện tiết ra phân hôi tanh.
+ Các lỗ chân lông tiết ra mồ hôi.
          Hành giả phải nhận thấy ra được sự bất tịnh bên trong và được bài tiết ra ngoài trên thân qua nơi bất tịnh. Do đó, hành giả phải thường xuyên quán tưởng để thấy sự nhơ bẩn của nó mà sinh nhàm chán, nhờ vậy mà ta không tham đắm luyến ái. Khi hành giả đã xả được tâm ái nhiễm, thì hành giả tu tập mới dễ đạt định.
d) Quán tự thể bất tịnh
          Vậy quán tự thể bất tịnh là quán sát cái thể chất của thân người, để nhận thấy rõ sự bất tịnh của nó như thế nào.
Về chất cứng như xương, tóc, lông, móng tay. Chất lỏng như máu, nước miếng, nước mắt.Chất sệt như mỡ, óc, tủy. Trong các chất ấy, dù cứng, hay lỏng cũng chẳng có thứ nào là trong sạch cả. Về chất cứng, như tóc của chúng ta nằm trên đầu, ai cũng quý nó hết. Nhưng nếu ta không tắm rửa gội đầu thường xuyên hoặc chải chuốt chăm sóc hằng ngày thì lâu ngày nó trở nên hôi dơ bẩn thỉu, không một ai dám đứng gần. Tóc là thứ ở nơi cao quý của con người mà còn bất tịnh như vậy, thì những thứ khác như ruột, gan, phổi lại còn bất tịnh biết chừng nào.
          Về chất lỏng, thì nước miếng là sạch nhất, vì nó được ở trong miệng là nơi hằng ngày được lau chùi súc rửa nhiều nhất. Thế mà lúc ra khỏi miệng, dù là của kẻ khác hay của chính mình, rủi bị dính vào mặt, vào áo, thì ta liền có thái độ và những cử chỉ tỏ rõ sự nhờm gớm ngay.
          Về chất sệt, thì não là phần quan trọng và được ở trong đầu óc là nơi cao quý nhất. Nhưng thử tưởng tượng, khi chúng ta đi xe hơi chẳng hạn, rủi bị tai nạn, người ngồi bên cạnh ta bị bể đầu, não trắng như đậu hũ tung tóe vào mặt mày chúng ta, thì chắc chắn những người thiếu bình tĩnh sẽ chết giấc vì ghê tởm. Không tham dục thì phước báu vô biên.
e) Quán bất tịnh sau khi chết

 
 
  Description: https://media.ex-cdn.com/EXP/media.phatgiao.org.vn/files/content/2020/07/15/quan-than-bat-tinh-de-tru-tam-ai-duc-2-1638.jpg
  
           Đây là thời kỳ chung cuộc của mấy mươi năm sinh tồn của thân này. Phật dạy: Thân người do bốn chất đất, nước, gió, lửa giả hợp lại mà thành, đến khi chết, xác con người phải trả về cho tứ đại. Trước hết, là hơi thở về với phong đại.Kế là hơi ấm trở về với hỏa đại. Tiếp theo là chất lỏng trong người trả về với thủy đại và cuối cùng chất cứng như thịt xương cũng trở về địa đại.
Nói một cách tổng quát từ kẻ sang đến người hèn, từ kẻ giàu đến người nghèo, từ kẻ già đến người trẻ, từ kẻ đẹp đến người xấu, ai ai đến giai đoạn chung cuộc này, cũng chỉ với một xác chết sình thối. Nói tóm lại, mỗi hành giả phải quán sát qua năm giai đoạn bất tịnh: Nhờ vậy chúng ta thấy rõ bản chất của thân này là bất tịnh nhơ nhớp mà không tham đắm dính mắc thân này là ta và của ta, do đó thành tựu được thân vô ngã. Ta quán thân này bất tịnh để mỗi hành giả không bị tham đắm dính mắc vào xác thân hư giả này không thật thể, nhờ vậy ta phá được ngã chấp. Chấp thân này là mình thiệt.
          Sau khi thành tựu pháp quán bất tịnh, hành giả cảm thấy nhờm gớm thân này, nên nảy sinh ra tư tưởng chán chường không muốn giữ thân này lâu dài nữa.Một số thầy Tỳ kheo sau khi quán pháp bất tịnh thành công nên mướn người giết.Phật giáo hóa ở cõi trời về, thấy vắng một số thầy Tỳ kheo nên mới hỏi ngài A Nan vì sao lại thế.A Nan kể lại sự việc như thế, Phật bảo ta dạy pháp quán bất tịnh để quý thầy không luyến ái dính mắc vào sắc thân mà dễ dàng buông xả. Sau khi thành tựu pháp bất tịnh, quý thầy phải quán tịnh trở lại để nhận ra thể tính thanh tịnh sáng suốt, nương nơi mắt thì thấy biết rõ ràng không lầm lẫn, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế mà thành tựu Phật đạo.
Ái có nghĩa là luyến mến yêu thương thuộc về tình cảm, dục là ham muốn thuộc về thể xác. Ái bao gồm đủ loại tình cảm: yêu, thương, nhớ, mến, ưa, ghét, giận, hờn, buồn, lo…
          Dục gồm có ngũ dục hay lục dục. Ngũ dục là năm thứ ham muốn của mọi người: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ nghỉ... Lục dục là sự ham muốn của sáu căn đối với sáu trần: mắt thích nhìn sắc đẹp, tai thích nghe âm thanh dễ chịu, mũi thích ngửi mùi thơm, lưỡi thích nếm món ngon vật lạ, thân thích xúc chạm da thịt êm ái, ý thích nghĩ tới cái gì thỏa mãn sự thèm khát và mong muốn của mình. Phần đông đa số người phụ nữ đều thích tình cảm luyến ái, đàn ông thì mong muốn ham thích một cách mạnh mẽ.  Một bên cần tình ái, một bên cần tình dục, hai bên hợp lại nhau thì say mê chìm đắm trong hoan lạc.

 
 
  Description: Sắc dục cũng lại như thế, không bao giờ làm cho ta thỏa mãn, càng ân ái thì lòng dục càng tăng trưởng, càng thích thú, càng thèm khát tìm kiếm và cuối cùng không làm chủ được bản thân mà dính vào tội tà dâm, hoặc hiếp dâm.
  
           Sắc dục cũng lại như thế, không bao giờ làm cho ta thỏa mãn, càng ân ái thì lòng dục càng tăng trưởng, càng thích thú, càng thèm khát tìm kiếm và cuối cùng không làm chủ được bản thân mà dính vào tội tà dâm, hoặc hiếp dâm.
Nhiều người tu theo đạo Phật, muốn giác ngộ giải thoát, để chấm dứt phiền muộn khổ đau nhưng lại không chịu từ bỏ tình cảm luyến ái dục vọng. Đây là điều hết sức mâu thuẫn, một mặt thì ta tạo thêm tình cảm luyến ái, một mặt thì ta lại muốn chấm dứt khổ đau.
Tại sao chúng ta cần phải từ bỏ ái dục?Vì ái dục là nguyên nhân dẫn chúng ta luân hồi mãi trong vòng sinh tử khổ đau.
Người Phật tử tại gia muốn từ bỏ ái dục thì phải làm sao?Chỉ cần giữ giới không tà dâm và biết tiết chế trong sinh hoạt tình dục là tốt lắm rồi. Từ đó, cả hai vợ chồng cùng học đạo, hiểu đạo và trở thành bạn đạo, khuyến khích nhau tu hành để được giải thoát sinh tử, khổ đau, giống như hai vợ chồng ngài Ma Ha Ca Diếp khi xưa, lấy nhau mà không ân ái cuối cùng hai người cùng phát tâm xuất gia tu hành và chứng quả A-la-hán. 
 
Ác ma không thấy đường đi lối về
          Ngoài ra, chúng ta có thể quán thêm về sự tai hại của sắc dục như liếm mật ngọt trên lưỡi dao bén, như khát uống nước muối, như chó gặm xương khô.
          Có người dùng dao nhúng vào lọ mật để lấy ra phết vào bánh mì, phết xong trên con dao còn dính lại chút mật, xong rồi thè lưỡi ra liếm chỗ mật còn sót lại đó.Mật tuy ngon ngọt nhưng vừa liếm xong là đứt lưỡi.Vị ngọt hưởng chưa tới một giây mà bị đau đứt lưỡi.
Như người đi trên biển, khát nước bèn múc nước biển mà uống, càng uống càng khát lại càng khô khốc cổ họng, có khi chết khát vì mặn. Có người vứt cho con chó một khúc xương khô, không còn dính chút thịt nào, nhưng con chó không biết, cố gặm tới gặm lui, rách răng chảy máu, rồi nó tưởng máu đó từ miếng xương khô mà ra, nên ráng gặm nữa, càng gặm càng đói, càng thèm, càng chảy máu răng.
Sắc dục cũng lại như thế, không bao giờ làm cho ta thỏa mãn, càng ân ái thì lòng dục càng tăng trưởng, càng thích thú, càng thèm khát tìm kiếm và cuối cùng không làm chủ được bản thân mà dính vào tội tà dâm, hoặc hiếp dâm. Hậu quả hiện đời là gia đình tan nát, hoặc bị tù tội, giam cầm khổ sở và trong đời sau có thể bị lạc đọa vào các loài súc sinh như chim sẻ, chim bồ câu chẳng hạn để thỏa mãn thú tính.
 
Thích Đạt Ma Phổ Giác
 
         Chúng tôi xin trích dẫn bài Kinh số 10.Thiền Tứ Niệm Xứ từ Kinh Trung Bộ.
TRUNG BỘ KINH
Bài số 10. Kinh Tứ Niệm Xứ
Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pali ra tiếng Việt
 
          Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammāsadhamma (kiềm-ma sắt đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo. Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn.
          Thế Tôn thuyết như sau:
          Này các Tỷ-kheo! Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.
          Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

 
  • QUÁN THÂN BẤT TỊNH
Quán thân trong thân qua phương pháp quán hơi thở
          Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: “Tôi quay dài” hay khi quay ngắn, tuệ tri: “Tôi quay ngắn”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, tuệ tri: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, tuệ tri: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, tuệ tri: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, tuệ tri: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Quán thân trên thân qua phương pháp quán tứ oai nghi
          Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: “Tôi đi”, hay đứng, tuệ tri: “Tôi đứng”, hay ngồi, tuệ tri: “Tôi ngồi”, hay nằm, tuệ tri: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.
          Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Quán thân trong thân qua phương pháp quán bất tịnh
          Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: “Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: “Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”.
          Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”. Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đổ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”.
Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
 
Quán thân trên thân qua phương pháp quán bất tịnh
          Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
           Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
          Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
          Này các Tỷ-kheo, lại nữa, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại … với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại … với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
          Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc … chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm … chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
          Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.
 
QUÁN THỌ THỊ KHỔ
          
Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo khi cảm giác lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác khổ thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ”. Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất”. Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất”; hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất”.
          Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ. 
  • QUÁN TÂM VÔ THƯỜNG
          Chúng ta muốn diệt trừ phiền não, khổ đau, thì chúng ta trước phải biết chúng nó từ đâu. Hầu như phiền não, khổ đau phát sinh từ tâm tham, tâm sân, tâm si nói riêng, nói chung là căn bản phiền não, tùy phiền não, thất tình, lục dục, bát phong, .v.v.
1. Căn bản phiền não (thập sử): gồm có 10
a) Kiến hoặc – lợi sử: 1) Thân kiến, 2) Biên kiến, 3) Kiến thủ, 4) Giới cấm thủ, 5) Tà kiến.
b) Tư hoặc – độn sử: 1) Tham, 2) Sân, 3) Si, 4) Mạn, 5) Nghi.
2. Tuỳ phiền não: gồm có 20 như 1) Phẩn (giận), 2) Hận (hờn), 3) Phú (che giấu), 4) Não (phiền não), 5) Tật (ganh tỵ), 6) San (bỏn sẻn), 7) Cuống (gian dối), 8) Siểm (nịnh hót), 9) Hại, 10) Kiêu (kiêu căng), 11) Vô tàm, 12) Vô quý, 13) Trạo cử, 14) Hôn trầm, 15) Bất tín, 16) Giải đãi (lười biếng), 17) Phóng dật (buôn lung), 18) Thất niệm, 19) Tán loạn, 20) Bất chánh tri.
3. Thất tình: 1) Lạc (vui); 2) Khổ (buồn); 3) Ái (thương); 4) Ố (ghét); 5) Nộ  (giận); 6) Cụ (lo lắng); 7) Dục (ham muốn).
4. Lục dục: 1) Sắc dục; 2) Hình mạo dục; 3) Oai nghi tư thái dục; 4) Ngôn ngữ âm thinh dục; 5) Tế hoạt dục (Da thịt); 6) Nhơn tướng dục (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý).
5. Bát phong: 1) Lợi (thắng); 2) Suy (thua); 3) Hủy (chê); 4) Dự (khen); 5) Xưng (vinh dự); 6) Cơ (nhục nhã); 7) khổ (buồn); 8) lạc (vui).
Những thứ này đã làm cho chúng sanh điên đảo, khổ đau, hoại tâm và mất đi giống trí huệ. Hành giả phải hiểu rằng các niệm tham, sân, si, thương, ghét, buồn, vui, .v.v. đều là vọng tưởng, vọng niệm hay còn gọi là vọng tâm. Vọng tâm là vô thường; Chân tâm là chân thật, chân như, Niết Bàn. Vọng tưởng là vô thường, giả tạm, không thật tướng, không chân thật, không thanh tịnh, không phải chân tâm, nên hành giả không chấp chúng nó, không nương tựa, không chạy theo. Khi hành thiền những vọng niệm tham, sân, si nổi lên, hành giả thấy và phải nhận ra chúng là vô thường, giả tạm, không nương tựa, không chạy theo thì tức khắc vọng niệm tự tan rã, biến mất. Khi các vọng tưởng hoàn toàn vắng lặng thì tâm thanh tịnh, chân tâm hiển bày. Đây là Niết Bàn.
Chư Tổ dạy khi hành thiền phải biết:
“Không nghĩ ác, Không nghĩ thiện,
Giữ tâm thanh tịnh, Chân tâm hiển bày”.
TRUNG BỘ KINH
Bài Kinh số 10, Kinh Tứ Niệm Xứ
Đức Phật dạy quán Vô Thường như sau:
          Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo, với tâm có tham, tuệ tri: “Tâm có tham”; hay với tâm không tham, tuệ tri: “Tâm không tham”. Hay với tâm có sân, tuệ tri: “Tâm có sân”; hay với tâm không sân, tuệ tri: “Tâm không sân”. Hay với tâm có si, tuệ tri: “Tâm có si”; hay với tâm không si, tuệ tri: “Tâm không si”. Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: “Tâm được thâu nhiếp”. Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: “Tâm bị tán loạn”. Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: “Tâm được quảng đại”; hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: “Tâm không được quảng đại”. Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: “Tâm hữu hạn”. Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: “Tâm vô thượng”. Hay với tâm có định, tuệ tri: “Tâm có định”; hay với tâm không định, tuệ tri: “Tâm không định”. Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: “Tâm có giải thoát”; hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: “Tâm không giải thoát”.
          Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. “Có tâm đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm.

 
  • QUÁN PHÁP VÔ NGÃ
          Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nội tâm có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi có ái dục”; hay nội tâm không có ái dục, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có ái dục”. Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
          Hay nội tâm có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi có sân hận”; hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có sân hận”. Và với sân hận chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: “Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên”; hay nội tâm không có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên”. Và với hôn trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có trạo hối, tuệ tri: “Nội tâm tôi có trạo hối”; hay nội tâm không có trạo hối, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có trạo hối”. Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có nghi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có nghi”; hay nội tâm không có nghi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có nghi”. Và với nghi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
          Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.
          Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm uẩn. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm uẩn? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư: “Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập; đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt. Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt”. Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm uẩn.
          Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Tỷ-kheo tuệ tri tai và tuệ tri các tiếng … tuệ tri mũi và tuệ tri các hương … tuệ tri lưỡi … và tuệ tri các vị … tuệ tri thân và tuệ tri các xúc, tuệ tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ.
          Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo nội tâm có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có niệm giác chi”; hay nội tâm không có niệm giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có ý niệm giác chi”. Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với niệm giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.Hay Tỷ-kheo nội tâm có trạch pháp giác chi … (như trên) … hay nội tâm có tinh tấn giác chi … (như trên) … hay nội tâm có hỷ giác chi … (như trên) … hay nội tâm có khinh an giác chi … (như trên) … hay nội tâm có định giác chi … (như trên) … hay nội tâm có xả giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi có xả giác chi”; hay nội tâm không có xả giác chi, tuệ tri: “Nội tâm tôi không có xả giác chi”. Và với xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với xả giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.
          Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.
          Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ”; như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ tập”; như thật tuệ tri: “Ðây là Khổ diệt”; như thật tuệ tri: “Ðây là Con đường đưa đến Khổ diệt”.
Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. “Có những pháp ở đây”, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.
 
Kết luận
          Này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
          Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
          Này các Tỷ-kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.
          Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
 
3. Thực hành tâm Bồ Đề – Bồ Tát đạo:
          Thực hành tâm Bồ Đề hay còn gọi là thực hành Bồ Tát đạo. Bồ Tát thực hành 1. Nhiếp luật nghi giới, 2. Nhiếp thiện pháp giới, 3. Nhiêu ích hữu tình giới. Cho nên, Bồ Tát phải đi vào luân hồi cứu độ tất cả chúng sanh. Có như vậy, các Ngài mới xứng đáng là Bồ Tát.
 
V. TU PHẬT ĐẠO:
         Những vị Bồ Tát và A La Hán chưa giác ngộ viên mãn. Nên các Ngài phải học thêm trí huệ độ sanh của chư Phật. Bồ Tát tu tập thực hành Bồ Tát đạo cứu độ chúng sanh đến khi tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn hay nói cách khác Bồ Tát thành tựu 52 quả vị như Thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đẳng giác và diệu giác thì Bồ Tát chứng được quả Bồ Đề, là thành Phật.
 
C. KẾT LUẬN
         Chúng sanh không ai muốn khổ của sanh, già, bệnh và chết, cái khổ tham sân si, cái khổ của luân hồi sanh tử. Vì thế, chúng sanh muốn lìa khổ được an vui, thì chúng sanh phải thành Phật. Vậy, hành giả trước tiên phải học nhân tu hành của Đức Phật nói trên và sau hành giả áp dụng vào đời sống tu hành của mình. Đây là pháp môn tu hành của đại thừa Phật giáo Bắc Tông - Mahayana Buddhism. Chúng con cầu nguyện chúng sanh một lòng hướng về chánh pháp để sớm ngày thành tựu quả Bồ Đề.

 
“Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thề nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.
 
“Nguyện đem công đức nầy
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo”.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
 
Mùa An Cư tại Chùa Phật Linh Ngày 06/08/2021
 
Biên soạn
Tỳ kheo Thích Hạnh Định
  
KINH SÁCH ẤN TỐNG 
  1. Nghi Thức Tụng Niệm Hằng Ngày
  2. Nghi Thức Cầu An và Cầu Siêu
  3. Nghi Thức Siêu Độ Vong Linh – Tam Thời Hệ Niệm
  4. Tổ Chức Sinh Hoạt Tự Viện
  5. Organization in Monastery
  6. Thế Nào Đạo Phật
  7. What is Buddhism?
  8. Pháp Môn Tịnh Độ
  9. Nhân Tu Hành Của Chư Phật
  10. Buddha`s Cultivation
  11. Phật Pháp Vấn Đáp Căn Bản
  12. Buddha Dharma Conversation
 
 
 Từ khóa: phat giao

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

GIỜI THIỆU

Tiểu sử Thầy Trụ Trì

Chư Tôn Đức có dạy: “Nhứt nhơn tác phước, thiên nhơn hưởng, Độc thọ khai hoa, vạn thọ hương.” Đại đức Trụ trì chùa Phật Linh thế danh là Đỗ Đình Bình, sanh năm 1972, tại thành phố Sài Gòn – Việt Nam, cha là Bác sĩ, mẹ là hướng dẫn viên hành hương. Thời niên thiếu đi học phổ thông đến lớp...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây